Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011

Ghi chép từ Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần thứ 3:


Những ấn tượng trẻ khó quên

ĐỒNG CHUÔNG TỬ

Sau gần 5 năm mong đợi, vào lúc 14 giờ ngày 27.5 tại Bến Nhà Rồng (chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Thành phố Hồ Chí Minh), đã chính thức khai mạc Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ 3. Hơn 100 đại biểu và khách mời văn trẻ đã về tham dự. Không khí buổi khai mạc trầm lắng, trang nghiêm.
Có một điều ngoài rìa, tưởng chừng không đáng chú ý ở đây là việc từ cổng vào trung tâm Hội nghị không có băng rôn chào mừng hoặc chí ít bảng chỉ dẫn. Các nhà văn, nhà thơ trẻ về dự “lơ ngơ” đi vào đều được bảo vệ của Bảo tàng gọi lại hỏi, rồi mới chỉ tay về hướng cần đến.
MC của Hội nghị là nhà thơ “bự con” Phạm Sỹ Sáu, phó chủ tich Hội Nhà văn TP.HCM. Ông là một người lính từng cầm súng ở nhiều mặt trận, trong đó có mặt trận ở Campuchia.
Tiếp theo lời khai mạc của nhà thơ Lê Quang Trang - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam kiêm Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM, nhà thơ Phan Hoàng - Uỷ viên Ban Chấp hành, Trưởng ban Nhà văn trẻ đã đọc tham luận đề dẫn mở đầu cho tham luận của các nhà văn trẻ: Nguyễn Thu Phương, Ngô Thị Hạnh, Trần Minh Hợp, Lê Thiếu Nhơn, Huỳnh Mẫn Chi, Nguyễn Lệ Chi… Nhiều vấn đề “nóng” của đời sống văn học trẻ đã được đưa ra với nhiều góc nhìn khác nhau.
Những khách mời đặc biệt là những nhà văn “cây đa cây đề” như Nguyễn Quang Sáng, Vũ Hạnh, Trần Kim Trắc, Lê Văn Thảo lần lượt được mời lên cầm “cây bút micro” để “phóng” chuyện. Mỗi người “phóng” một ít, gom lại cũng được “năm hay sáu trang âm thanh”.
Vì dành thời gian hơi nhiều cho các bậc lão thành nên nhiều tham luận của các nhà văn trẻ như Trần Hoài Anh, Đồng Chuông Tử, Trương Anh Quốc, Phương Trinh, Lê Thuỳ Vân,… đành phải chuyển về hội thảo ở Cần Giờ.
 Như vậy, phần “nghị” đã được “gọt” lại cô đọng, tinh giản đối với những đại biểu nhà văn trẻ.
16 giờ 30 phần “nghị” kết thúc, sớm hơn 30 phút so với lịch trình.
Phần “hội” được nối vào sau đó, ở một nhà hàng ẩm thực ven sông, cách Hội trường hội nghị khoảng trăm mét. Không khí buổi “hội” này thật rôm rả, vui tươi trong làn gió mát sông Sài Gòn. Và cùng bắt tay nhau hẹn ở Cần Giờ vào hôm sau…
Khoảng 13 giờ ngày 28.5, đông đảo đại biểu nhà văn trẻ đã tập trung tại Văn phòng Hội Nhà văn TP.HCM, số 62 Trần Quốc Thảo, Quận 3.
Khoảng 13 giờ 45 phút thì chiếc xe chở đại biểu đến. Đúng 14 giờ xe lăn bánh, mang theo hầu hết những tài năng trẻ văn chương của thành phố đi tham quan một số công trình đã định trong lịch biểu.
Có một chuyện hi hữu gây “ngỡ ngàng” thoáng chốc cho mọi người, đó là việc chiếc xe hình như vừa vội vã đến từ một đám tang nào đó ở ngoại ô xa xôi. Nên khi vừa đỗ lại, cờ tang vẫn còn “đu đưa” trên đầu xe.
Nhận thấy nhiều ánh mắt nhìn chầm chầm, xôn xao vào “hình ảnh lạ”, người lơ xe đã “xúc động” vội vàng gỡ xuống.
Chiếc xe lượn đi nhiều nơi đã định rồi đậu lại ở Trung tâm Dã ngoại Cần Giờ. Nơi đây là địa điểm sẽ diễn ra nhiều hoạt động “trọng tâm” của Hội nghị.
Do buổi chiều hôm đó trời có mưa, với hơn 30 phút nghỉ ngơi dọc đường, xe đến chậm hơn dự định già một tiếng đồng hồ.
Theo danh sách thì có khoảng 72 đại biểu tham dự. Vài người vì công việc riêng không đến được. Số lượng đại biểu nữ nam tương đương nhau. Trong đó có hai vị tiến sĩ phê bình văn học, hiện đang giảng dạy ở các trường đại học phía Nam.
Việc lo liệu phòng ốc, ăn uống, vui chơi, dã ngoại,… hình như chỉ một mình nhà thơ - Chánh văn phòng Hội Phan Trung Thành “đạo diễn”. Một người lo cho non 100 người. Thật tội nghiệp cho anh, nhất là cách đây chưa lâu, anh vừa trở về từ bệnh viện. Di sản của cuộc trở về ấy vẫn còn được anh kiêng cữ, chăm sóc.
Đúng 20 giờ, một trò chơi mang tính giao lưu đã diễn ra trong không khí ấm áp vui nhộn, tràn tiếng cười, tiếng vỗ tay. Ngoài hội trường mưa rơi nặng hạt, gió lạnh rít từng cơn, từng cơn. Trò chơi là ý tưởng của nhà văn – đạo diễn Nguyễn Thu Phương. Nhờ một chút “sân khấu hoá” mà cuộc giao lưu rất lôi cuốn, giúp các nhà văn trẻ biết rõ nhau hơn.
Sau một đêm lạ nước lạ cái, có nhiều người trẻ khó ngủ, nhất là nhà văn nữ. Nhiều “chàng thơ trẻ” như Thanh Tùng, Lê Quang Trang, Phạm Sỹ Sáu,… lại không chịu ngủ, vì sợ lỡ mất trận chung kết “trong mơ” cúp C1 châu Âu, giữa MU và Barcelona.
8 giờ ngày 29.5, bước vào Hội thảo Văn học trẻ trong dòng chảy thị trường. Phải nói chân tình rằng, ấn tượng ngày khai mạc đã khiến rất nhiều nhà văn trẻ nản lòng. Nhưng mọi người vẫn đến. Cứ ngỡ đến cho có. Hội thảo sẽ nhạt, ai dè…
Trừ 15 phút đầu, thời gian cần thiết để khởi động làm nóng. Chủ toạ của Hội thảo là nhà thơ, nhà báo Phan Hoàng - Trưởng ban Nhà văn trẻ, cùng nhà văn Tiến Đạt - Phó ban, đồng cầm trịch. Hội thảo ngày càng mở, nóng lên theo từng giây từng phút, nhiều vấn đề được đem ra mổ xẻ gây cấn. Nhiều tham luận, ý kiến được phản biện sôi nổi, đa chiều chưa từng có trước đây, ở bất kỳ hội thảo văn học nào, từ Trung ương đến địa phương. Thời gian càng trôi về trưa, tay của các nhà văn trẻ giơ lên xin phát biểu, phản biện càng nhiều. Không khí xứ biển Cần Giờ dường như cũng “nóng” hơn cùng hội thảo!
Nhiều vấn đề được các đại biểu nhà văn trẻ gởi gắm, mong chờ như chuyện tài trợ in sách, giải thưởng, bản quyền, các hình thức đưa thơ đến công chúng, quảng bá tác phẩm,…
Hội thảo đã thành công ngoài kỳ vọng, ngoài sức tưởng tượng, lần đầu tiên có được như vậy.
Hội nghị kết thúc. Các đại biểu văn trẻ trở về trung tâm thành phố với nhiều ấn tượng đẹp. Những thành viên tham gia Trại Sáng tác văn học trẻ do nhà thơ Phan Hoàng phụ trách tiếp tục ở lại “đắm mình” trong sông nước Cần Giờ.

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011

Cảm nghĩ về thơ Việt hôm nay, dòng chảy từ các tác giả trẻ Chăm

(Tham luận sẽ đọc tại Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.Hồ Chí Minh cuối tháng 5 năm 2011)

Nhắc đến Chăm, người ta thường nhớ ngay đến những ngọn tháp Chàm mọc lên đỏ rực, huyền thánh trên những quả đồi tươi xanh, lộng gió xuyên suốt miền Trung và Tây Nguyên hàng bao thế kỉ nay.

Nhắc đến Chăm, người ta cũng nhớ ngay đến những công trình nghiên cứu về lịch sử, kiến trúc, điêu khắc, những công trình về văn hóa Chăm, lễ hội dân gian, âm nhạc truyền thống,…của các nhà nghiên cứu tên tuổi trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Nhắc đến Chăm, người ta cũng nhớ ngay đến một dân tộc đã trải qua một thời kì lịch sử đầy biến động, lúc rực rỡ hưng thịnh, khi suy vi cực kì. Nay dân tộc đó đang sinh sống hòa bình, mến khách trên dải đất hình chữ S hùng vĩ, thơ mộng cùng cộng đồng 54 dân tộc anh em.

Và nhắc đến Chăm, những thế hệ người yêu thơ Việt, hẳn cũng còn nhớ đến tập thơ Điêu tàn của thi sĩ Chế Lan Viên, vào những thập niên đầu thế kỉ XX, thiên niên kỉ trước.

Và phải chăng chỉ có vậy? Phải chăng một dân tộc với nền văn minh chữ viết xuất hiện sớm vào loại tốp đầu khu vực Đông Nam Á, mà nền văn chương chẳng giới nào thèm đếm xỉa đến? Phải chăng lời tuyên bố của Paul Mus, nhà dân tộc học nổi tiếng thế giới người Pháp, giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX là sự thật? Ông ấy tuyên bố rằng: “Văn học Chăm chỉ có thể tóm gọn trong 20 trang giấy”, mà thôi.

Phải chăng Chăm là một dân tộc lại tiếp tục nghèo nàn về suy tư văn học đến vậy?. Với vỏ bọc ngôn ngữ mới là tiếng Việt, tâm hồn Chăm bỗng bị mắc kẹt, tự ti bởi rào cản ấy trong sinh hoạt đời thường, tư duy và sáng tạo nghệ thuật như nhiều người khác tộc nào đó từng nói từng nghĩ ư?

Dân tộc Chăm đã mất mát nhiều, điều đó ai cũng biết. Những học giả, nhà nghiên cứu tùy lĩnh vực chuyên môn của mình, đã công bố nhiều công trình liên quan đến dân tộc ấy. Họ trở nên có danh tiếng lớn. Công sức họ bỏ ra, thành quả họ được nhận lại tương xứng. Nhưng thử hỏi, ai dám dũng cảm đến khờ khạo bỏ cả đời mình đi nghiên cứu một dân tộc, mà biết trước dân tộc đó chẳng có hấp lực gì, sự xúc động nào đáng kể.

Và Chăm là một dân tộc hội tụ đầy đủ những điều đáng kể. Di sản hôm qua, đời sống cộng đồng xen cư, cộng cư hôm nay, đều là những đối tượng đáng để thể hiện. Không chỉ trong những công trình khoa học chuyên nghành, có lúc khô khan, đơn điệu, mà loại hình thơ ca, cô đọng, dễ nhớ dễ thuộc cũng phải can dự vào. Không phải can dự cho có, mà can dự như những bông hoa đẹp, ai ngắm cũng trầm trồ, trong vườn hoa đa sắc đa thanh ấy.

Những cái tên như Inrasara, Đồng Chuông Tử, Tuệ Nguyên, Jalau Anưk, Chế Mỹ Lan, Bá Minh Trí, Thông Minh Diễm, v.v…đã xuất hiện vang vang kiêu hãnh. Mặc dù xuất hiện với tâm thế khác, ngôn ngữ khác nhưng họ rặt tâm hồn Chăm, thấm đẫm tinh thần minh triết Chăm.

Lời tuyên bố của Paul Mus ngày xưa, theo thời gian đã mất hoàn toàn giá trị. Công trình Văn học chăm, khái luận-văn tuyển của Inrasara ra đời năm 1994 đã vô tình hay cố ý xô ngã thảm hại lời tuyên bố có phần vội vã ấy.

Và với những tập thơ đã ấn hành vài năm trở lại đây của các tác giả trẻ Chăm, cũng đã phần nào chấm dứt tình trạng thương vay khóc mướn.

Từng ngóc ngách của đời sống, nơi họ đến, đi, trở về, được họ quến lại cảm xúc mình. Đặc sệt nồng độ, tươi rói hình ảnh, ngôn ngữ.

Ở nơi xó xỉnh nào đó, họ ở lại, dịu dàng tiếp biến ngữ cảnh hay cô đơn miệt mài định phận. Chẳng hề hấn gì, họ vẫn say sưa thắp sáng ngọn lửa thơ ca, ôm mang nó phiền muộn nhiệt tình trên mọi nẻo lãng du.

Chẳng hạn, khi đang trên đường từ Hà Nội thấm tràn cơn lạnh xuôi về phương Nam nắng gió rát rạt, nghe tin nước Nhật bị động đất sóng thần tàn phá, Đồng Chuông Tử đã bật chốt cửa lòng mặc những câu thơ trào ra cuồn cuộn, nghẹn ngào bên dòng Thu Bồn ở Hội An.

Có những lúc con rũ rượi một mình phía sau câu thơ vừa ngã rạp
ngôn ngữ nhỏ bé, hữu hạn, lạc lõng trợ duyên thâm trầm
tụ trên cánh đồng nắng như hạt muối buồn

Có những lúc con phụt khóc một mình phía trước màn hình
tin tức ngắn củn
xót tinh thể bụi

Mặt trời chợt lặn trên đất nước hằng mọc ánh sáng
Japan,11.3, cháy bùng ngọn sóng vỡ vạc bí bầu
trỗi thức lở lói

Japan, 11.3 thế giới nhận diện âm thanh gãy
đổ lênh láng mặt đất

Trang kế sẽ là thành phố trùm chăn ngủ
và gặt hái tâm hồn nhân loại ăn năn

Thượng Đế, cha vừa dựng lên xơ xác nỗi đục.
Yêu thương, quãng đại có là hư cấu?

Bài thơ này nằm trong tập thơ “Nội dung của cơn mưa”, tập thơ thứ ba sắp ra mắt của Đồng Chuông Tử.

Hay như Tuệ Nguyên phiêu lãng bốn mùa, thoắt Bắc thoắt Nam, thoắt miền Trung bão lũ thoắt Tây Nguyên xanh tươi, khí hậu mát mẻ. Anh có lần tâm sự là “đi để sống và tìm cảm giác sống” , còn trẻ không có nghĩa là vốn ít , thiếu năng lượng để nạp cho suy tư của mình. Trong bài thơ “Như một nghịch lí”, Tuệ Nguyên viết rằng: Khi họ thấy tôi ngước mắt nhìn họ ngờ nghệch – họ đưa ánh mắt về phía tôi, như trấn an ngầm: “Đối diện với sự thật như thế sẽ làm cho anh chẳng dễ chịu đâu!” Với tập thơ mới nhất sắp xuất bản có tên gọi “Mi và ngôn lời”, nhà văn Nguyễn Đình Chính viết tựa rằng “Thơ Tuệ Nguyên là những gam màu của lửa. Ai chưa hiểu, sẽ rất khó mà đồng cảm ngay được”.

Còn với Chế Mỹ Lan, nhà thơ nữ sinh năm 1975, hiện định cư ở Hoa Kỳ, trong tập thơ “Em và màu mây qua tháp” Nxb. Văn học ấn hành năm 2008, thì thơ là những hoài niệm về xứ sở xa xôi, nhớ thương quá khứ dịu vợi, nhớ cả những màu mây ngũ sắc bất giác  trôi qua đỉnh tháp quê mình. Chế Mỹ Lan viết rằng:

Màu mây trắng hay màu của nỗi nhớ
Tháp miệt mài đánh bạn với thời gian
Rừng không còn hoang, người vẫn biệt mù
Tháp đứng mãi cho đến ngày tận thế!

Một tác giả khác cùng sinh năm 1975 với Chế Mỹ Lan, là Jalau Anưk, anh là con trai đầu của thi sĩ quá cố Jalau, được độc giả biết đến với bài thơ Hạt sương của tôi, tham dự ở nhiều tuyển tập thơ cả nước. Bút danh Jalau Anưk là phiên âm la tinh từ tiếng Chăm, tiếng Việt có nghĩa là “Con của Jalau”. Anh là giáo viên tiếng Anh ở TP. HCM, thành viên biên tập đặc san Tagalau, Tuyển tập sáng tác-sưu tầm-nghiên cứu Chăm do Inrasara sáng lập và chủ biên. Thơ Jalau Anưk, theo Inrasara nhận xét là “ngồn ngộn hiện thực, có không khí hậu hiện đại, nhưng vẫn nồng đậm bản sắc Chăm”. Trong bài thơ “Dưới vòm trời là những mái nhà”, anh viết:

…Đi đi em!
phía bên kia nông hoèn hoẽn sông quê là ùn ùn sóng bể
sau hoang hoải đêm dài là rực phố đông vui
phố cũng thích Xaranai
phố cũng say đắm lòng tháp cổ
phố cũng rộn ràng với Ginơng
phố cũng trải lòng với điệu múa Apsara
phố cũng hiểu Ariya
phố cũng sụt sùi nghe dalikal bà kể…

Với Bá Minh Trí, tác giả sinh năm 1979 tại Ninh Thuận từng đoạt giải thưởng thơ Bút Mới lần thứ 5 năm 2005, do Báo Tuổi Trẻ tổ chức. Hiện anh là Giám đốc Công Ty TNHH Bình Minh, chuyên doanh về các mặt hàng nông sản tại Phan Rang. Anh tâm sự: “Làm doanh nhân là trách nhiệm với vợ con, còn làm thơ là trách nhiệm của mình với cộng đồng”. Trong bài thơ “Triết lí lá vàng’ anh viết:

Cái cười ngoảnh lại và rớt quanh làng
Người đi
Câu hát dở dang, điệu bwei hrung* lỡ nhịp
Xalam xalam

Từ bạt ngàn đồi núi
Từ hanh hao gió nổi
Bàn chân trần vất vả tuổi thơ
Trôi dạt

Núi có trơ và sông có bạt
Em quên bẵng và plei lạ lẫm
Vẫn mong một ngày về
Tạ ơn

Cái cười ngoảnh lại và rớt quanh làng
Không lời tụng ca rình rang
của thầy paxeh
buồn vui bớ láng giềng
sao người còn múa hát
mai trở về
chắc vàng như lá cây
rơi
khi đã nhiệt tình xanh lặng lẽ.


Riêng Thông Minh Diễm, bút danh khác Diễm Sơn, tác giả sinh năm 1978 tại Bình Thuận. Học hết cấp ba, gia đình khó khăn, không có điều kiện học lên, anh thường trú quê nhà, tự học tiếng Chăm, mày mò nghiên cứu văn hóa mẹ đẻ, báo chí đăng rải rác ở tạp chí Dân tộc, Dân tộc và phát triển... Thơ anh chủ yếu xuất hiện ở đặc san Tagalau. Thơ anh không nhiều, nhưng bài nào cũng đặc sắc, tinh tế. Trong bài thơ “Người xóm cũ”, anh viết:

Người đàn bà đi ngược triền dốc
tay bưng li-i bám đầy bụi
bình thản người đàn bà cúi nhặt
phần thừa lại phân trâu sót khô
lấm lem đếm tuổi theo thời vụ
vừa lội qua một nhánh sông có bãi đá
lau lách mỗi ngày đời…

Xưa kia nơi đây có một con suối
urang còn nghe ia ru
đó là tiếng thì thào của dòng nước…!

Người đàn bà khải ngộ
giữa bãi trắng lầm bầm lang kar
gỡ chiếc khăn mư-thâm
che dung nhan
che tì vết
ngồi nhớ
hồi dara

Nhưng cánh cửa đền Ppo Dhat lúc nào cũng đóng
lỗi hẹn một mùa Cabbur
cũng chưa thấy một nhà trùng tu nào ghé tới thăm
người đàn bà có một con đường quanh queo
bàn chân vu vơ hoài mơ thiên sứ
chị gái Apsara bay đi tự lúc nào?!

Nhìn thấy người đàn bà Xóm Cũ
đứng buồn.

.v.v…

Những gương mặt thơ trẻ Chăm vừa phác họa ở trên, chỉ là những dòng định danh lược thuật ngắn củn, chắc chắn còn thiếu sót. Dân tộc Chăm là dân tộc yêu văn chương. Tâm hồn Chăm là tâm hồn đầy tràn nghệ sĩ tính. Một vài cái tên được nêu lên, chắc chắn không thấm tháp vào đâu. Nhưng họ, những cái tên vừa điểm danh ấy, cũng kịp tạo ra một diện mạo thơ, một dòng chảy lạ đậm đà bản sắc. Ô hay, với người làm công việc sáng tạo nói chung, đấy cũng là một sự tìm kiếm có khi vời vợi, nhọc nhoài.



Không những thế, với một tâm thế mới, cảm và nghĩ mới, họ đã thực sự kéo dài nền văn chương Chăm ra. Đồng thời hãnh tiến đóng góp vào nền văn chương Việt Nam, những câu thơ, những bài thơ, những tác phẩm thơ không trộn lẫn với ai.

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Mừng năm mới, chia buồn và tưởng niệm

Ngày 2/4/2011 dương lịch vừa qua, nhằm ngày 1/1/2011 Chăm lịch, tức là vào thời điểm này, người Chăm mới bước sang năm mới. Mình nhận được hai tin nhắn TADHUW THUN BIRUW KAJAP KARO THUK SIAM (Chúc Mừng Năm Mới) từ nhà thơ Bá Minh Trí ở Phan Rang và một số phone lạ.

Sáng hôm sau, mình lên mạng, có ghé đọc một loạt bài chuyên đề “Người Chăm có thông minh không?” trên inrasara.com. Xúc động vì vui và thú thật có đượm chút u buồn.Vui vì chuyên đề được mọi người ủng hộ nhiệt tình, mình cũng liền hưởng ứng bằng hai bài thơ: Mĩ Sơn và Thán Tụng.

Đượm u buồn là vì ngay lúc ấy, mình chợt nhớ những ngọn tháp Chăm đang lở lói vì thời gian lẫn con người. Tháp Chăm nằm rải rác dọc đất nước, ngọn nào ngọn nấy cũng đều bị thương. Có tháp đã sụp đổ chỉ còn hai mà cũng không nguyên vẹn như khu Ba Tháp. Tháp Pô Rô Mê, cũng đang “xuống” trầm trọng. Không biết ai kia sẽ trùng tu như thế nào khi mà tất cả mọi người (cả Chăm) vào thăm viếng tháp đều phải mua vé để trung tu di tích?

Ngày 5/4, nhà thơ Bá Minh Trí gọi phone, hỏi thăm sức khỏe mình và báo tin Nghệ nhân thổ cẩm Chăm ngoại hạng Phú Thị Mỡ vừa tạ thế tại làng Mỹ Nghiệp, thọ 75 tuổi. Bà Mỡ từng được công chúa Thái Lan mời qua Bangkok biểu diễn nghệ thuật dệt thổ cẩm. Ở trong nước Bà cũng từng tham gia nhiều triển lãm lớn khắp Bắc Trung Nam. Bà Mỡ ra đi là một mất mát lớn của người Chăm. Bà là thân mẫu của nhà văn Trà Vigia, một trong những sáng lập kiêm thành viên BBT tạp chí Tagalau, sáng tác-sưu tầm-nghiên cứu Chăm.

Trưa 6/4, nhà báo-nghệ sĩ đường phố Lê Anh Hoài cho hay Nhà ngôn ngữ học, Nhà giáo Lê Hiền, cha anh vừa từ trần, hưởng dương 90 tuổi.Tang lễ sẽ cử hành tại số 1 BV.Bạch Mai, từ 7h30-9h30 sáng thứ sáu ngày 8.4.2011. Kính báo anh em ai ở Hà Nội nhớ đi hoặc chia sẻ buồn cùng anh Hoài và gia quyến qua số 0913530949.

Ngày 1/4 vừa qua, là ngày giỗ nhạc sĩ tài danh Trịnh Công Sơn. Mọi năm đến ngày này là mình cùng những anh em âm thầm ôm đàn, rượu, mồi mèng đến mộ ông say sưa, ca hát suốt đêm ở nghĩa trang chùa ở Gò Dưa, Thủ Đức. Năm nào cũng vậy khi bọn mình đến thì đã có cả vòng tròn anh em khác yêu mến ông đang ngồi chuốc rượu, luân phiên nhau hát nhạc Trịnh trước rồi. Không khí ngày giỗ ông thật vui và ấm cúng. Mình để í năm nào cũng có một anh chàng Tây thạo tiếng Việt, hát bài Diễm xưa, Con mắt còn lại,… rất mùi.

Năm nay mình tự tưởng niệm, bằng cách mật niệm một phút rồi lên mạng nghe nhạc Ông.

Thứ Năm, 31 tháng 3, 2011

Japan, 11.3

Có những lúc con rũ rượi một mình phía sau câu thơ vừa ngã rạp
ngôn ngữ nhỏ bé, hữu hạn, lạc lõng trợ duyên thâm trầm
tụ trên cánh đồng nắng như hạt muối buồn

Có những lúc con phụt khóc một mình phía trước màn hình
tin tức ngắn củn
xót tinh thể bụi

Mặt trời chợt lặn trên đất nước hằng mọc ánh sáng
Japan,11.3, cháy bùng ngọn sóng vỡ vạc bí bầu
trỗi thức lở lói

Japan, 11.3 thế giới nhận diện âm thanh gãy
đổ lênh láng mặt đất

Trang kế sẽ là thành phố trùm chăn ngủ
và gặt hái tâm hồn nhân loại ăn năn

Thượng Đế, cha vừa dựng lên xơ xác nỗi đục.
Yêu thương, quãng đại có là hư cấu?

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

Chuyện phím ngày nóng

Chưa năm nào Việt Nam nóng như năm nay
Chưa khi nào Sài Gòn nóng như lúc này
Chưa bao giờ tôi nực nội đến vậy
Buổi trưa 35, 36 độ. Không gió. Cúp điện.

Ở quán cà phê Bông Giấy
Gian nan còn lại một muỗng
Và hơi thở mọi thứ dồn lại
Nén tôi như giọt đen rơi tí tách

Nguyễn Thị Hậu réo đến rồi đi
Thiên hạ đến rồi đi vội vã
Tôi nán lại chờ nắng tắt
Rồi ghé nhà thơ Ý Nhi đưa giúp sách

Khổ sở vì nắng tôi thở hồng hộc như con chó điên
Anh Được chủ quán nói tạt bên tai.
“Chưa năm nào Sài Gòn nóng như năm nay. Nóng cực đại”
Tôi cũng ậm ừ: “dạ, nắng quả là cực quá chừng anh nhỉ?!”

Em gái bưng li đen đá đến bàn bên. Nghe được.
Tủm tỉm cười, ngoắc mông quay đi khêu gió.

Nguyễn Lương Vỵ

Sau bữa rượu từ tâm ấm áp vị mưa phùn
Ánh mắt người thơ lô xô nhớ
Sóng Thu Bồn đọng gió tha la

Lanh canh mùa quạnh cheo cánh lang bạt
Quảng Nam liu xiu bóng tuổi mé nhà
Giọt huyết thống mang mang tuệ giác buổi sáng
Hồn nhiên trút những lời thác lũ

Bên kia dòng suối nhân tình
Giọng hò khàn đục buông lưới giăng miếng thở dài
Đùn xa vắng hốc trời ngụ cư linh lãng

Bay vào ngôn ngữ khứ hồi
Trĩu trầm luân lạc

Buổi trưa vắt phi trường Tân Sơn Nhất thành chiếc khăn mùi xoa
Miệt mài trổ bụi tư tưởng
Hiện trạng chắp vá kẹt đường chảnh chọe hình thức

Anh thấm từng gợn buồn lầy lội
Thắt dây an toàn

Cuối năm Sài Gòn bong cơn mưa bất chợt
Câu thơ cạy hồn bật chốt trào ra.

Mĩ Sơn

Thánh địa: người mẹ tâm linh thường trụ
Ngày ấy cha và những đứa con dứt áo từ bi
Nhổ neo trôi về nam

Thả thương nhớ cho rừng cây búi cỏ
Kí sinh văn minh

Nỗi buồn duyềnh gạch đá
Rướn đợi
Bước chân huyết thống

Chỉ vầng trăng soi đêm lung linh sóng

Ánh sáng được chăn trập trùng cánh quê
Thỉnh thoảng dắt đi tìm cỏ trên ngọn đồi rang nắng gió
Mĩ Sơn đỏ rực lẻ loi

Có một ngày
Cánh tay người phương xa
Ôm thánh địa vào lòng
Chở thánh địa lừng lững đi vào nhân loại
Cấp tập hộc tốc mùa lở

Trên cao là bầu trời đầy mây, dẫu là màu mây khác
Dưới là đất đai liễu ngộ phù sa khác
Chẳng hề hấn gì, vui sướng hơn Mĩ Sơn đã ở lại
Thấm nhuần định phận nhớ thương.

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011

Ở nơi tối cao nhìn xuống

Con người: hạnh phúc/ bất hạnh cho trái đất
Niềm vui nỗi buồn cho nhau
Tri thức/ trí tuệ: luôn bàn cãi
Nguyên do bung sóng

Thế kỉ hai mươi mốt
Sự đối chọi tí tách âm thanh bếp lửa
Đong đưa gánh mưa ưu phiền

Giấc uy quyền choàng vai hiện thực
Vỡ toang tuổi tác

Thổi rụng mùa màng
Trát nắng nhân gian
Khét lẹt khí hậu
Lô nhô cảm giác mộc miên rũ nước

Thế giới: ánh sáng xanh um/ bóng tối trèo xuống
Leo loét nôi tâm Đức Phật.

Một giờ cho trái đất

trong giấc mơ xanh tươi của bầu trời tôi
trái đất đã cạn khô nước mắt từ những tiếng kêu nơi lịch sử tội tình trổ nụ
nhiều đời mây tí tách hiến thân vào nghi lễ cầu nguyện muộn màng
thế hệ bị doạ nạt cấp tính khát khan vòm vọng

giọt nước mắt đầu tiên của trái đất rơi ở phương Tây kiêu căng
rồi ăn tốc độ bay vào xứ sở huyền bí phương Đông mộc mạc
ngày xưa loài người rừng rú và mê ngủ bát ngát lịch sử
họ dùng sức mạnh của cơ bắp để gây hấn và chiếm đoạt

vậy đó, trong giấc mơ xanh tươi, phù sa nghèo nàn dưỡng chất trí tuệ
bất chợt một ngày loài người thức nhận, sau giông tố của dấu hiệu trừng phạt, thiên nhiên lên tiếng phẫn nộ
loài người ngộ được tí tẹo sự độc hại khổng lồ vây quanh do họ tạo ra
họ chống đỡ, diễn trình thô sơ, miễn cưỡng
một giờ cho trái đất không điện đài, yên nghỉ và cải thiện môi trường


ở thành phố nơi tôi sống, trái đất bị viêm họng mãn tính
những con đường lúc nào cũng kẹt xe, khói bụi, sự nóng bức, ô nhiễm dày đặc
trong dòng thác người chỉ nhìn được mắt kính và khẩu trang


một giờ cho trái đất
sự hưởng ứng hờ hững, qua loa, nửa vời


một giờ cho trái đất
lồi lõm buồn vui không gian tôi.


Lưu ý chút xíu: Đây là bài thơ mình làm hưởng ứng Ngày 26/3 - Ngày giờ trái đất, không nhớ rõ là năm 2006 hay 2007. Bài này nằm trong tập thơ "Mùi thơm của im lặng", dự thi Giải thưởng thơ của Công ti sách Bách Việt năm 2009. Thời điểm đó mình thấy mọi người hơi "mơ hồ", có nơi làm theo có nơi không. Nói chung là không nhiệt liệt và nhận thức sâu sắc như năm nay, 2011.
Có thể dư chấn của động đất, sóng thần ở Nhật, khiến họ vỡ ra nhiều điều chăng?

Lời tự sự của con đường

Tôi là một con đường lành lặn và hạnh phúc trước kia, trước kia thôi
những vòng xe lướt êm leng keng tiếng cười trần thế
hạnh phúc của con đường tôi là vào giờ cao điểm loài người bon bon đời sống ben ben

bây giờ tôi là một con đường đậu nhiều lô cốt
sự ngơ ngác và mất ngủ đã ghẻ lở, hốc hác hình dong tôi

tôi thường khóc mỗi giờ cao điểm
loài người hay nhăn nhó và chửi bới tôi
đau điếng lạnh lùng

pô lơi, họ đâu biết tôi đang phờ phạc vì chịu đựng
sức nặng và khói bụi từ họ và xe cộ muôn người

sự lành lặn và nụ cười khoái trá của tôi trước kia
ai xé đi rồi
làm ơn mang trả lại

hỡi loài người đừng nhầm lẫn đối tượng để trút
giận tôi là một con đường vô tội đáng thương.

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2011

Rót ra cốc ngày mưa

Đêm qua lên mạng, chép lại những bài thơ nằm trong tập thơ thứ ba của mình  "Giữa một thế giới vắng Thượng Đế" sắp sửa in "hầu" anh em yêu thơ. Gặp Nguyễn Thanh Bình, anh bạn kĩ sư xây dựng, cùng quê. Hắn rủ sáng mai uống cà phê. Mình ừ, vì cũng lâu rồi hai đứa chưa ngồi lại với nhau.
Sáng 6 giờ 50 hắn đến. Mình bảo "thôi không uống cà phê ở quán Tèo Ù nữa, xuống Phan Thiết đi, mình nhớ những anh em văn nghệ ở đó lắm. Thế là hắn chở mình về phố biển, cũng hơn tháng rồi mình chưa ghé về đây, từ khi cùng Khả Lôi, rong chơi Hà Nội.
Khả Lôi, là một người bạn thi sĩ, người em nhỏ hơn mình một tuổi, yêu thích tự do, phóng khoáng, xem nhẹ vật chất, công danh. Mình xem Khả Lôi như em kết nghĩa. Thật lòng mà nói, mình với Khả Lôi như anh em ruột.Tính tình mình thế nào thì Khả Lôi cũng như vậy.
Với lại, cái Hoài - đạo diễn điện ảnh, vợ Khả Lôi, là một người Chăm,cùng dòng tộc với mình. Chuyến la cà Hà Nội vừa rồi, mình đi đâu cái Hoài cũng tình nguyện làm tài xế. Cả hai vợ chồng, mình rất quý.Và cháu Nghé, con gái bé bỏng của hai em nữa, mình xem như con trai mình. Cháu gái gọi mình là bố Chuông đầy trìu mến. Mình khoái tên gọi này he he.
Trở lại chuyện xuống Phan Thiết uống cà phê. Vừa đến nơi, mình phone ngay cho nhà thơ - nhà báo Nguyễn Hữu Cán, công tác tại Báo Bình Thuận. Anh là một người anh, mình thân cách đây hơn 5 năm rồi. Thơ anh phiêu lãng, giàu tình đời, hai năm trước anh ra tập thơ đầu tay "Khắc tên lên đá" và một tập phóng sự "Người đàn bà đi qua chiến tranh" rúng động giang hồ xứ biển chứ không chơi.
Nhưng tính tình anh bộc trực, giận nói giận, thương ra thương nên bị đì làm phóng viên muôn năm. Mình thương, nhiều lần khuyên anh vào Sài Gòn, anh đắn đo dữ lắm. Nào là vợ con, nhà cửa, thời gian công tác gần 20 năm rồi, không thích bon chen, ham hố gì nữa. Với lại, hằng ngày mà không được nhìn thấy biển, anh buồn, anh đã quen không gian sóng nước và vị mặn đặc trưng ấy lâu rồi.
Ghé anh, trước tiên là món tắc kè tửu của hãng Nam Hải Long, còn nguyên trong hộp mà bác sĩ Nguyễn Trung Hà - bạn anh vừa tặng hôm qua. Anh Cán, Bình và mình cùng nhau bù khú với món dăm bông xông khói, điểm những câu chuyện văn nghệ, đời thường, dí dỏm, vi tế tình người.
Khoảng hai tiếng sau, Bình có điện thoại, vội xin phép ra ngoài, trong khi trời thì mưa ngày càng nặng hạt. Lúc này mình thật nhớ Khả Lôi vô cùng,điếu cày hắn đem từ Hà Nội vào cho mình, đi đâu mình đem theo, rít đến xịt khói luôn hehe. Thật phê. Thật đã nhớ.
Mình và anh Cán ngồi lại với nhau hơn nửa tiếng nữa, mình đề nghị lên mạng ở nhà anh, để gọi là giới thiệu trang dongchuongtu.blogspot.com đến "độc giả" Nguyễn Hữu Cán. Vừa mở ra, anh vội lắp kính cận vào đọc một mạch những bài thơ của mình,và xúc cảm nên bài thơ "Lên blog đoc thơ Đồng Chuông Tử" trong vòng chưa đầy 5 phút. Một bài thơ thấu hiểu, nồng đậm ý vị ,thi tứ mới mẻ.
Bây giờ trời vẫn còn mưa, hai anh em thiết nghĩ nếu mà không đi đánh chén với món cầy tơ, hút thuốc lào, để nhớ "Việt Vương Câu Tiễn - chữ anh Cán đặt cho Khả Lôi"- chỉ mà có tội. Anh em ở xa xôi kia ới, các ngươi có nghĩ giống "bọn ta"  không ? Xin mời ra quán cầy gần nơi nhất nhé! (Trừ Khả Lôi).

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Lên blog đọc thơ Đồng Chuông Tử - Thơ Nguyễn Hữu Cán

Trưa tháng Ba
trời Phan Thiết đổ cơn mưa bất chợt
sau buổi khề khà
lên blog đọc thơ người bạn Chàm

thơ miên man như làn khói
mang nỗi buồn vạn kỉ
của thời liệt oanh

Porome Po Klong Girai nay còn đâu
chỉ Panduranga dải đất cực nam
tràn nắng gió
nước mắm, mực khô và rượu nho đặc sánh
cuốn theo những bầy cừu non gặm cỏ trên đồi khô khốc

Phía xa kia Chiêm nữ còn  hát thei mai và nàng đwa pụk trở về từ bến nước
trong ánh mắt tôi gợn những ngọn tháp ngàn năm đứng đợi
gạch đá lãng quên.

Kí phận

(Cho Bá Vương)

Vương ơi đây là bức thư
kỉ niệm nhỏ bọn mình
tao viết vội vàng trong phòng trọ ở Suối Tiên chiều ấy

Thời điểm không có gió, chỉ sóng vỡ thầm lặng, miết từng cơn rát lòng.

Căn phòng mày xộc mùi rượu và dấm
Cả bụi vô định
Treo lủng lẳng trên thanh phơi cuộc đời

Hiện thực đã dạt mày bùn lầy nách phố
Hàn tiện cơn mơ
Lếch thếch sinh phần trụi lá

Phố là biển xanh, chứa nhiều con sóng lớn
Cái thuyền thúng mày loay xoay mút mùa nhân gian

*       *         *
Vương nà, bọn mình say sưa cả ngày hôm qua từ phòng trọ gụi gần đến xa xôi quán xá
Con ngựa sắt đã hơn một lần trở chứng giận hờn săm lốp
Hay những ý nghĩ dã thú tật nguyền bày ra cơ hội vá lại đời rách nát
Đêm trở về ngủ ngoan như cơn mưa bụi lay phay buổi sáng
Rồi thức dậy an lành thế tục niềm lo.

*      *        *
“Sáng nay cớ gì phải tỉnh
Ngày mai công việc sẽ lôi tao đi, thơ ca xốc mày chóng mặt
Bọn mình sẽ lạc nhau trong thành phố rộng lớn này
Một bụm thời gian không định lượng
Cả nhúm không gian đậu nhờ” mày nói.
Trong khi hai tay nắm chặt chai rượu, bị mồi và vài tờ báo cũ.

Vương ơi, tao thấy trong lòng mày cuộc đời chỉ toàn gậy gộc, lừa mị, vô cảm khô khốc
Tao cũng thấy trong con ngươi sâu thẳm mày, hoàng hôn ngầu đỏ chực rụng

*     *       *
Ôi ánh mắt mày
Bóc từng lát nghĩ tao sau mỗi hớp rượu
Điếng đắng thế sự
Nhạt nhoài tình thân
Tàn cuộc bốc hơi khỏi con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo như định phận rác.

Một ngày rậm rạp

Đêm nhúng vào cốc từng nong giấc ngủ
Lóe bung mẻ trằn trọc

Khi mặt trời thò tay ngắt bóng tối
Ánh sáng dọn lên rực thơm thức nắng

Anh trở dậy gắp từng cọng sóng nóng hổi
Ăn biển suy tư lấm tấm mưa phùn

Thong thả kéo dài buổi điểm tâm đến ngọ với li đen đá
Anh tự hỏi:”thế giới có vui hơn không từ khi mọc loài người?”
“Thượng Đế trừng phạt lần cuối cùng hay chỉ là cái bạt tai khuyến cáo?”
Ngoài kia mùa cập nhật cháy tin tức

Hình ảnh gõ lời rung phím mắt
Âm thanh tô màu lấm lem thính giác
Nung khét bữa cơm trưa muộn mằn

Hoang ngát quả đồi lụt lội nước mắt
Nhiệt độ trở về đông đúc, vội vã, khó đoán
Đất đai bấn loạn

Trên đỉnh núi bên kia cõi khói
Lão tiên tri bày cuộc rượu dưới gốc cây già
Nức nở say rồi ngủ quên lên bóng nhớ

Buổi chiều bần bật cởi chốt gió
Trút bầu trời muối mặn.
                       
Plei Pajai 11.3.2011.

Im lặng sóng

Thơ đốt lia chia cơn trưa xúc cảm
trong một phút nồng lên men giấy
bấn lặng khói mù đắn đo

con đường gió lên
rụng ngập kí ức xuống mắt tròn động vật tôi
quay lại bộ phim hoang dã nhớ

ướt âm thầm những vòng xe, dung nhan quán cóc ghế ngồi
bàn tay nói về một vết trầy của câu chuyện lứa đôi, bịn rịn và hư hao
đôi môi mở hình trái tim mọng nước nhũn nhoè bụm lửa

tôi ngồi ngây lịm loang dài thượt mặt đất xanh vàng

sự vẫy chào của bước chân nụ hôn kéo rời màu đan xen
óng ánh một khắng khít nên thơ
tóc bay ngơ ngác phương trời gió
đay nghiến không khí tôi ướt lạnh và run cầm cập trong nắng ngần
em dắt kỉ niệm rã riêng ra ngõ đầy bóng người
lốc khốc mưa động cơ lầy lội âm thanh giàn tấu
một ngày dài nóng bức nhiệt tâm

một hôm nào như hôm nay
chiếc lá rơi cong dấu hỏi xuống chỗ tôi ngồi vẽ kí ức
loài người có thực thương nhau không em
sang giàu có ôm long đong bay lên
im lặng sóng

vỡ bọt.

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2011

Sóng dư luận

Ở đâu cũng có sóng, dù là nơi rậm rạp sâu thẳm nhất
ở đâu cũng đầy dư luận, dù lồng lộng âm thanh

sóng đến từ ngoài kia xa xăm vạn dặm
có thể tự mọc chộn rộn long lanh

dư luận tự sinh ấm áp phúc âm hoặc rấm rức giải minh
dư luận sáng sủa nhất là dư luận hồn nhiên độc lập
ngoài ra nhầy nhụa sân buồn

lời và ngôn ngữ bồi phù sa cho dòng sông dư luận
màu mỡ đất đai sắc thái
liễu ngộ biển nhìn

sóng trùng tu màu thời tiết hoặc tạt cốc ánh nắng
rũ rượi trâm cài.

Thán tụng

Cuộc đời mỗi loài là một vòng tròn nhỏ
cuồng vũ trong lốc gió nhân gian
tựa những vòng xe bon bon trên con đường sỏi đá quê hương Người.

Vòng tròn y hệt một cái cây, hạt buồn bông vui treo lủng lẳng trên đó
nảy nở trong mối quan hệ ngày thường
quày quả quay thành số phận

Ở quê tôi mỗi người là một số phận
côi cút, nhẫn nhịn và cam chịu
lom khom mót ân điển trên cánh đồng thể chế

Dân tộc tôi như một gia đình đông con
cha đã hóa thân vào ngọn lửa trong đám thiêu mọc ở bìa rừng
mẹ ở lại săn mồi, bưới móc khắp mặt đất khô cằn
chốc chốc cục tát gọi đàn con đến

Cũng may ông bà để lại những ngọn tháp dọc dài đất nước
nhắc nhớ chủng tộc, tín ngưỡng, nền văn minh
nhiều gã ngụ cư phù thủy đã dựng nhà mới
hối hả thay máu

Mỗi người có một nỗi buồn
cả dân tộc là diện tích to lớn
mùa hạn đã kéo dài ta dâng lễ cầu mưa.

Long lanh nóng

Sáng nay mẹ lại nhập viện
Suốt đêm con trai của con mãi dấm dứt chẳng hiểu vì chuyện gì
Mùa này trời quá lạnh

Gần 10 năm nay mẹ bệnh, quy luật của tuổi già
Bước chân con chốn xa cứ ríu lại mỗi khi chuông reo
Có thể là tiếng điện thoại reng reng trên bàn viết
Rộng hơn là tiếng vang nơi chùa chiền, nhà thờ,…

Ôi nỗi đau của mẹ, câu thơ con không giúp ích được gì
Nó không là đơn thuốc để mẹ uống hằng ngày
Càng không là âm thanh líu lo ríu rít bên giường mẹ
Nó là tiếng lòng con lặng im lụt cảm xúc
Là thang thuốc cho con tập tành chịu đựng, tưởng tượng và dỗ dành mình

Gần 10 năm nay mẹ bệnh, riêng con đi khai khẩn nỗi buồn
Nỗi buồn tràn lan trên diện tích đất đai sau mỗi nhác cuốc vỡ hoang chức phận và thể chế
Diện tích ngày càng gãy triệu cánh cò, mắt con càng sâu thẳm

Thưa mẹ, con thấy loài người thật tội nghiệp và hoang vu
trên chính hành vi nhỏ bé lẫn mơ ước lớn lao của mình

Ới mẹ, tiếng thở khó nhọc và cơn ho rát ấy
buốt trái tim con trở chiều, khuya khoắt,…

Thưa mẹ, bông hồng đỏ bên ngực con còn ấm tươi và ngát hương lắm ạ!

Múc hiện thực rót xuống

Khi cái giếng nhà tôi cạn nước
Mọi sinh hoạt đời thường và tín ngưỡng bị nán lại

Bến nước mé làng là niềm hi vọng cuối cùng để cọ rửa và thánh tẩy nhân gian
Trong lúc câu thơ này đổ mưa xuống tâm hồn trống trải nhớ thương
Hình ảnh mẹ tôi đội nước về nhà, sau lưng là nền mây xanh ngắt điểm vài cánh cò chao liệng mông mênh

Sát na này đây tôi thật tiếc cho gã nhiếp ảnh bạn tôi, hắn đang loay hoay đâu đó với bước chân hải hà, tay lăm lăm ống kính
Mùa khô là mùa khát, mùa của những nghi lễ cầu nguyện thiêng liêng du vang cõi đất
Mùa của Pô Yang, thần thánh hiện hữu, hồi âm và nhắc nhở sự bạc tình, ngạo mạn của trí tuệ bé con
“Rồi đây các ngươi sẽ khóc hận bởi lòng tham và nỗi hiểu biết của mình”
Thượng đế thốt lên nhức nhối trong giấc mơ tôi đêm qua

Thật kinh hồn, tôi nín lặng ngập lu rỗng bên chái hiên
Lời phi mã lực lên ngôn ngữ du mục lửa rừng lách tách  
Nghĩa nhiệm của câu thơ là tức tốc rao truyền thông điệp thời cuộc
Không còn cách nào khác hơn là cưỡi thời gian trở lại vòng đời
Ăn ở ngủ nghỉ nói năng làm lụng tựa /với con người

Đây là bài thơ vừa được múc lên từ giếng nước nhà tôi vào buổi chiều bất thường trỗi lạnh
Giếng hãy còn tí tẹo nước nên y trang bài thơ ướt đẫm và thơm hương trầm.

Plei Pajai, cuối mười.

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Tin về Mẹ và con trai ở quê


Chiều nay mình nhận được điện thoại từ chị Hà rồi vợ mình, gọi ra báo tin Mẹ bệnh, nhập viện được hai ngày, thằng con trai hơn 1 tuổi vừa bị dời leo. Mình rối cả ruột gan, tối sầm mặt mày. Đã đành đứng ngồi không yên xem người phàm sỗ sàng, hợm hĩnh giăng lưới vây bắt Cụ Rùa ở Hồ Gươm, giờ nghe tin "sét đánh" nữa, mình cảm giác lòng mình như thời tiết đang bị áp thấp bất ngờ, bất khả kháng.
Mẹ mình năm nay vừa đúng 75 mùa xuân. Thưở mười tám đôi mươi, lập gia đình với một người Huế, dòng Công tằng, chuyển cư về vùng Ma Lâm, Bình Thuận nơi chôn nhau cắt rốn của Mẹ và mình bây giờ.
Năm sau Mẹ hạ sinh anh trai. Lên năm, sáu tháng tuổi gì đó, anh bị bệnh sốt, Mẹ ra các hiệu thuốc mua về mớ thuốc tây cho anh. Ông nội (người Chăm theo mẫu hệ, bên Mẹ gọi là bên nội) lúc ấy đã già yếu, nặng tai, thương cháu lại không chịu hỏi Mẹ xem đã cho cháu uống thuốc gì chưa, liền đem thuốc đông y ra pha nước đút tiếp. Thế là anh trai bị sốc hai loại thuốc và mất trong ngày hôm đó. Mình có thể tưởng tượng ra hình ảnh của Mẹ lúc ấy thật tột cùng đau đớn, tột cùng khổ não, vì nỗi mất mát.
Nửa tháng sau, chồng của Mẹ, bị chế độ Diệm bắt lính. Rồi đâu cuối tháng Mẹ lại hay tin chồng đã hi sinh trong một trận đánh xa quê hương.
Ôi cuộc đời Mẹ tôi sao mà nỗi buồn mọc lên dồn dập và to đùng đến thế, hỡi Pô Yang!
Từ đó, ngọn lửa lòng Mẹ dường như tắt hẳn. Mẹ ở vậy thờ chồng hơn 30 năm.
Sau 1975 được bốn năm, có một người đàn ông luống tuổi mang hai dòng máu Chăm-Pháp, trông phong lưu, nghĩa hiệp từ đâu bỗng xuất hiện thắp sáng niềm vui nơi ánh mắt tràn u buồn của Mẹ. Hai bên họ hàng đồng thuận trăm phần trăm cho cuộc tình này. Ngay cả những người thân bên nhà chồng cũ của Mẹ cũng rất mừng cho cựu con dâu.
13.9.1980, là ngày hạ giới của mình, ở một trấn nhỏ, có tên Ma Lâm (Plei Pajai). Và người đàn ông kia là cha mình.
Thời tuổi thơ của mình không nhà không cửa, ông bà nội ngoại không ai còn sống. Mỗi lần Mẹ đi nhổ cỏ mướn, gặt lúa kiếm tiền nuôi con đều điệu mình trước ngực hoặc sau lưng, thỉnh thoảng để mình trong thúng bên bờ ruộng cho đỡ mỏi lưng. Riêng mình nằm thích thú với cái thúng và khoảng mây xanh trắng đang nhè nhẹ trôi trên cao.
Chắc chắn cái lưng còng của Mẹ hiện giờ có phần đóng góp đáng kể của mình.
Phần kí ức về Mẹ, mình xin giữ làm nỗi nhớ riêng tư.
Đến đây mình xin chuyển qua phần đứa con trai bé bỏng đáng yêu.
Cu cậu sinh ngày 9.2.2010, tên đầy đủ là Nguyễn Phú Chế Tuệ. Ngày cu cậu lọt lòng mẹ, bà ngoại (tức Mẹ đẻ của mình) bệnh, nằm ở bệnh viện tỉnh, dưới thành phố Phan Thiết. Mình túc trực ngày đêm ở đó. Mẹ của cu cậu thì vượt cạn một mình ở tuốt Bệnh viện Ninh Phước, Ninh Thuận, cách nhau 150 km. Cũng may còn có bà nội của cu cậu, nếu không chắc mình xoay chong chóng chóng cả mặt.
Cu cậu sinh ra được mấy tháng thì vấp phải bệnh đậu mùa. Bây giờ, cu cậu lại bị dời leo. Thật khổ thân cu cậu mới tí tuổi đầu.
Điệu này, mình phải về thôi, tạm dừng sớm cuộc rong chơi xuyên Việt ở đây vậy. Hẹn lần thứ ba nhé Hà Nội.