Thứ Tư, 13 tháng 7, 2011


Phan Huyền Thư chia sẻ về sự đau lòng


“ Chất xám”, những  khảo dị đau lòng...


Phan Huyền Thư

Tôi không ngờ, có một ngày, kịch bản phim “Chất xám” của tôi đã không có được “một cái kết có hậu- happy ending” như đạo diễn của nó mong muốn. Ở cương vị của người biên kịch, tôi thấy mình chưa thật xứng đáng với giải Bông Sen Vàng mà Hội đồng giám khảo đã trao, tôi thừa nhận điều đó! Bởi vì từ hàng chục bài báo khác nhau trên mạng, báo in, báo hình mà hàng ngày tôi tiếp thu và từ chính trải nghiệm cá nhân của mình thì vấn đề liên quan đến chảy máu chất xám mới hình thành được ý tưởng kịch bản trong tôi,nó không hề “là câu nói vu vơ trong lúc trao đổi” , bởi vì sau bốn, năm lần sửa đi sửa lại theo yêu cầu của Hội đồng nghệ thuật Hãng, tôi mới có được kịch bản “Chất Xám” (mà thực ra tên ban đầu của nó là “Công ty nước mía”) trình lên Hội đồng duyệt của Cục điện ảnh  .

Đúng là lấy cảm hứng từ tác phẩm của người khác thì có gì mà vỗ ngực! Bất giác, tôi muốn hỏi Tố Như tiên sinh xem ông nghĩ gì khi đọc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.... mà lại có được Kiều thấm đẫm nước mắt và nỗi đau nhân gian đến vậy, nếu như ông không có được một phẩm chất “phong vận kỳ oan ngã tự cư...?”

Nỗi đau nhân tình thế thái luôn là sự rung động mãnh liệt nhất của người cầm bút, chẳng lẽ những người viết kịch bản phim Tài liệu lại không có nỗi đau ấy? Vậy thì các đạo diễn nên mang những bài báo có những vấn đề, những  nhân vật thật hay mà mình đọc được hoặc là mang những “câu nói vu vơ “ đi triển khai thành phim cho đỡ mất thời gian của Hội đồng duyệt kịch bản, của nhà biên kịch và của chính họ nữa...

Khi bộ phim đã kết không có hậu, biên kịch tôi phải làm nốt cái nghĩa vụ (mà tôi cho rằng mình phải chịu trách nhiệm lớn nhất khi kịch bản tồi), đó là cho văn bản đó thêm những khảo dị khác nhau để độc giả cùng phiêu lưu và để tùy tâm mỗi người lựa chọn một cái kết mà mình mong muốn..

Khảo dị một:

Vì sao tôi kiến nghị với Hội đồng xét Giải thưởng Nhà nước? Vì mục tiêu “Dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng - dân chủ -văn minh....”!
Dân có giàu nước mới mạnh ; Xã hội có công bằng, dân chủ thì mới văn minh. Tôi có ảo tưởng và ngây thơ quá không, thưa các bạn, khi cùng với chị Phan Thanh Tú  ký vào bản kiến nghị Hội đồng? Và chị Tú có “hồn nhiên tham gia Cách mạng” quá không khi “ tung tăng” cầm đơn đi gặp người nọ người kia trình bày, đối thoại ...trên Bộ Văn Hóa...cứ như tìm được ra công bằng đến nơi rồi...!!! 

Các lãnh đạo có trách nhiệm thì tiếp đón cởi mở, chân tình, thân thiện và hứa sẽ xem xét... Tôi và chị Tú đều “phấn khởi” kiến nghị chứ không hề cay cú, hằn học gì...vì cả hai chị em đều chẳng có hồ sơ xét duyệt danh hiệu giải thưởng thì đợt này...Chúng tôi đặt niềm tin vào sự dân chủ của Bộ Văn Hóa- Thể Thao - Du lịch khi đăng công khai tất cả các trường hợp xét giải trên các phương tiện truyền thông xem ai có kiến nghị gì không trước khi trình lên cấp có thẩm quyền cao hơn....

Mở ra diễn đàn công khai là cách làm dân chủ mà những biên kịch chúng tôi chưa bao giờ thấy trước đây...Vì vậy, bản kiến nghị của chúng tôi ghi rất rõ ở mức mong Hội đồng xem xét lại về trường hợp của anh Nguyễn Thước...“để bảo vệ sự trung thực, công bằng và uy tín của Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật...” chúng tôi không có ý tố cáo, kiện tụng gì...hay đòi hỏi quyền lợi cho cá nhân.

Chúng tôi đóng góp với Hội đồng ý kiến vì cá nhân mỗi chúng tôi thấy chùm tác phẩm điện ảnh mà anh Thước đăng ký còn mỏng so với những chùm tác phẩm, công trình đồ sộ, có giá trị của các đạo diễn, nghệ sỹ đã quá cố (các bạn có thể vào tham khảo và so sánh  danh mục các cong trình, tác phảm xét giải của điện ảnh Tài liệu trên website của Bộ Văn Hóa hoặc Báo Văn hóa) những tên tuổi của Hãng  từ vài chục năm trước còn tồn lại vẫn chưa được công nhận. Mặc dù là tác giả kịch bản, chúng tôi vẫn nhận thấy ba tác phẩm này chưa phải xuất sắc về chất lượng nghệ thuật và chẳng hiểu ngoài mấy giải thưởng khiêm tốn ấy ra, những bộ phim ấy đóng góp được gì cho sự phát triển nghệ thuật điện ảnh tài liệu về phong cách thể hiện, về phương pháp tiếp cận vấn đề ? Những bộ phim ấy đã đóng góp được gì cho sự nghiệp dựng xây và phát triển đất nước....? Chúng tôi không hiểu Hội đồng đã xem những bộ phim ấy chưa hay là chỉ đọc hồ sơ mà anh Thước tự khai thông qua Hội Điện ảnh?

Hơn nữa, ai cũng biết rằng đây mới chỉ là danh sách đề cử từ Hội đồng cấp Bộ...đã ai chắc chắn được kết quả cuối cùng đâu? Vì sao báo chí lại cho rằng đây là một sự việc mang tính chất “ kiện cáo” nặng nề vậy nhỉ?

Anh Nguyễn Thước có phát ngôn trên báo Thể thao Văn hóa ngày 13-7-2011 là anh sẽ không rút lui. Tôi cũng đồng tình với anh, chúng tôi gửi kiến nghị lên Hội đồng là để được Hội đồng trả lời bằng văn bản hoặc tham khảo ý kiến xây dựng của chúng tôi mà đưa ra quyết định chính thức, khách quan và đúng đắn chứ không phải ép anh rút lui khỏi danh sách đề cử Giải thưởng Nhà nước (trừ phi, tự anh thấy quá ngượng và thấy mình rút cho lịch sự...)  Càng không phải để anh bài binh bố trận “bão táp trong chén trà” và trên công luận.

Anh luôn khẳng định anh đúng, anh không phạm quy, anh đủ tiêu chuẩn, anh nằm trong tiêu chí xét giải.... (anh thuyết phục được cả những người có uy tín có chân trong một Hội đồng hoàn toàn khác lên mặt báo để khẳng định hộ anh như vậy)...Nhưng anh Thước ơi, chúng tôi đâu có cho rằng anh phạm quy hay hay thiếu tiêu chí....? Điều quan trọng nhất mà chúng tôi thấy là: “ANH CHƯA XỨNG ĐÁNGVỚI NHỮNG GÌ ANH ĐỀ NGHỊ ĐƯỢC XÉT TẶNG.” Bởi vì, đối với chúng tôi, “Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ Thuật” vô cùng cao quý và lớn lao đối với cuộc đời hoạt động sự nghiệp của một  nghệ sỹ. Nếu dễ dãi với việc xét giải có nghĩa là đang làm cho nó “mất thiêng”, có nghĩa là đang giết dần giết mòn uy danh của nó...Một giải thưởng mà chẳng còn uy tín có nghĩa là một giải thưởng vô giá trị, thậm chí, hài hước! Một giải thưởng không xứng đáng sẽ trở thành một trò hề cho thiên hạ nhìn vào...Chúng tôi làm việc này vì những Nghệ sỹ đã xứng đáng và sẽ xứng đáng với nó, không phải vì cá nhân anh hay là để bảo vệ quyền lợi của chúng tôi.

Cá nhân tôi không có nhu cầu “đòi lại” thành tích của bộ phim chung trong đó có cả tên tôi, tên anh và tên thành phần đoàn làm phim (mà anh chỉ đại diện chúng tôi lên sân khấu nhận giải) về để cất vào tủ, chờ cơ hội đi chạy Hồ sơ xét duyệt chỗ này chỗ kia...Nghệ thuật sòng phẳng lắm anh Thước ạ, anh bỏ công sức ra bao nhiêu, sẽ nhận lại được bấy nhiêu, vài trò khôn vặt, chạy chọt bợ đỡ hay luồn lọt tranh thủ quan hệ là biểu hiện của sự kém phát triển tài năng và nhân cách, nó không có chỗ cho một xã hội hiện đại với tiêu chí công bằng -dân chủ-văn minh....vì vậy mà chúng tôi kiến nghị, xin nhắc lại...kiến nghị một cách trực diện, đàng hoàng, hồ hởi và nhẹ nhõm chứ không hằm hè, căng thẳng như anh nghĩ...

Cũng trên bài báo này, anh cho rằng anh buồn vì chúng tôi không trao đổi với anh hoặc không thông qua Ban giám đốc Hãng, nơi chúng ta cùng đang công tác...? Chúng tôi không rõ nguyên do nào anh lại phải buồn vì chuyện đó? Ngay đến những nước Dân chủ - Pháp quyền, có nền văn minh  phát triển trên thế giới hiện nay người ta cũng chằng có nghĩa vụ phải thông báo bàn bạc với nhau trước khi đi kiện tụng nhau trước tòa án Dân sự hoặc Hình sự ...huống chi đây chỉ là một kiến nghị đàng hoàng, trực diện, có tính chất xây dựng dân chủ, thậm chí là hơi “ngây thơ-quy chế, quy định của lũ đàn bà” chúng tôi ?!

Chúng tôi lại càng không thể trình bày với Ban giám đốc Hãng vì khi đã báo cáo với Ban giám đốc Hãng về việc kiến nghị thì có nghĩa là cả Hãng phim cùng kiến nghị trường hợp của anh với Hội đồng rồi còn gì?  Anh làm chúng tôi thấy buồn cười quá! Có ai thông báo trước hoặc xin phép cơ quan chủ quản  để mà tổ chức kiến nghị nhau bao giờ không?

Hãng phim chung của chúng ta, có đúng như anh nói,  là : “chưa bao giờ xảy ra một chuyện đáng buồn như thế này”  không? Nếu đúng vậy thì chắc là anh khiến chúng tôi không phục thật rồi!!! Vì thế nên chúng tôi mới dám làm việc kiến nghị “tày trời” như vậy. Anh lại thích chơi trò “ Đuổi hình bắt chữ” khi  đánh tráo khái niệm từ việc quy cho chúng tôi tranh chấp quyền lợi cá nhân sang việc chúng tôi không hiểu gì quy chế và tiêu chí, (chúng tôi đã bao giờ tìm hiểu và khai hồ sơ đâu mà biết !) rồi từ việc tiêu chí và quy chế, anh lại biến báo thành việc “buồn vì nghĩa tình đồng nghiệp”.... nghe nó giả dối và ngụy biện làm sao! Khi làm Hồ sơ xét giải anh có bàn bạc hoặc có ý định bàn bạc với chúng tôi không? Thậm chí Ban giám đốc cũng không hề nhận được hồ sơ  xin xét giải của anh (vì anh đầy kinh nghiệm khai Hồ sơ rồi) anh tìm hiểu rất kỹ quy chế và thành viên Hội đồng ...nên anh đã biết ngay rằng mình cần phải đi từ Hội điện ảnh chứ không thèm đi qua Hãng. Anh Thước ơi, chúng tôi cũng là Hội viên Hội điện ảnh nhưng nói thật là chúng tôi chẳng thích thói đạo đức giả như vậy đâu! Mình là nghệ sĩ, sống thế làm sao tác phẩm chân thật được!!!

Trong khi chờ quyết định sáng suốt cuối cùng của Hội đồng Xét giải thưởng Nhà nước về VHNT, thay vì cố tình ngụy biện và đôi co thì hãy dừng các phát ngôn, lòng vòng mệt mỏi. Xin anh đừng đem những gì mà mình không muốn đến cho người khác! Vậy khảo dị  thứ nhất của tôi ngắn gọn lại là: Thà im lặng khi mọi người cười còn hơn là cười một mình khi mọi người im lặng!

Khảo dị hai:
Anh Nguyễn Thước nhắc đi nhắc lại nhiều  lần trên các báo là “chị Phan Thanh Tú và tôi lẽ ra phải cảm ơn anh mới phải....” Không biết chị Tú thấy thế nào, riêng tôi, tôi có nhiều lý do để phải cảm ơn anh. Và tôi quả là thiếu sót khi chưa nói được ra lời cảm ơn ấy. Nhân tiện, anh đã cho cơ hội, tôi xin phép được công khai cảm ơn anh trước công luận.

- Tôi cảm ơn anh vì nếu không có cách đối xử “thực dân” đối với ý tưởng và lao động chữ nghĩa của tôi đằng sau các giải thưởng của anh, tôi không thể nào có được động lực và ý chí trở thành một tác giả điện ảnh thực sự để vượt thoát khỏi “thân phận biên kịch” như ngày hôm nay!

-Tôi cảm ơn anh, vì sau khi kịch bản phim “ Thế hệ @” được duyệt, ngay lập tức anh đã đứng ra nhận với Ban giám đốc và lao vút đi thực hiện một minh. Anh đi nhanh đến nỗi, các nhân vật trong phim của anh lần đầu thực hiện toàn là người sinh khoảng năm 1970, thậm chí, có cả người sinh năm 1962... đó là lý do tại sao Hội đồng Nghệ thuật cảm thấy lo lắng: tiết tấu phim rối bời, các cụm nhân vật và câu chuyện “không liên quan”... Tôi đã quá thất vọng!

Việc kịch bản phim đổi từ “ Thế hệ@” thành “ Những công dân@” với một vài cụm cảnh vớt vát và các nhân vật sinh năm 1980 trở đi, cấu trúc và lời bình của nó tại sao cuối cùng lại thành như vậy....anh là người biết hơn ai hết! Vậy là sau khi mầy mò cùng anh đi quay bổ sung, tháo phim ra dựng lại  và viết lại lời thuyết minh... bộ phim được trốn vào việc ảnh hưởng của sự phát triển IT trong cuộc sống của thế hệ trẻ sinh sau chiến tranh... nó vẫn không khỏi gây thất vọng cho tác giả kịch bản và chính khán giả là thế hệ @, thế hệ 8X. Tôi đã không ít lần phải trả lời trước các báo về quan điểm, đặc điểm và giải thích rất nhiều với báo chí về bộ phim. Tôi thất vọng lắm vì tôi biết như vậy là đề tài về thế hệ hoàn toàn mới của đất nước sẽ bị bỏ qua, phải rất lâu sau này người ta mới có thể duyệt đề tài về một thế hệ mới của xã hội hoặc là chẳng bao giờ nữa...
         
Nhưng sự xuất hiện của tôi trên báo chí đã khiến nhiều độc giả tưởng nhầm tôi là tác giả của phim, họ còn nhầm rằng tôi là đạo diễn...điều đó khiến anh không hài lòng, anh đã tuyên bố với rất nhiều đồng nghiệp rằng:“...Từ nay trở đi, tôi thề không bao giờ thèm làm kịch bản của con này nữa!!!” Lúc đó anh đã là Nghệ sỹ ưu tú, còn tôi, với 5 năm về làm việc tại Hãng, đây là lần đầu tiên tôi có kịch bản được đưa vào kế hoạch sản xuất của Hãng... Nhưng tôi vẫn cảm ơn anh vì sau hơn 5 năm, tôi được hưởng sự “ không thèm quan tâm” của anh mà tôi có thêm nhiều hoạt động và hợp tác với những đạo diễn khác của Hãng. Tôi có cơ hội đóng góp kha khá các kịch bản cho các đạo diễn khác thực hiện và nhận giải thưởng (tuy là khiêm tốn), Nhưng tôi, vì sự “trừng phạt” của anh mà có cơ hội để trưởng thành. Tôi đăng ký tham gia các khóa Đào tạo cơ bản và Cao cấp của Artelier VARAN để mà trở thành người có thể tự thực hiện “ câu nói vu vơ” của mình thành  một bộ phim tài liệu. Thực tế là tôi và anh đã không hợp tác và trò chuyện trong một khoảng thời gian khá dài....anh lại lên báo ngụy biện rằng quan hệ tốt đẹp là thiếu trung thực rồi...

- Vẫn còn nhiều lời cảm ơn phải nói với anh, tôi cảm ơn anh vô cùng khi kịch bản “Công Ty nước mía” sau này đổi thành “ Chất xám” của tôi đã được duyệt và dưa vào kế hoạch, anh lại nhờ Ban giám đốc can thiệp để được nhận chứ không (hoặc ngại không dám) trực tiếp gặp tôi trao đổi. Trong khi đó, tôi cùng lúc lại làm đạo diễn hai bộ phim” Cha, mẹ xin lỗi con” và “Mẹ,  con đã về”. Cả hai phim này tôi đều lấy cảm hứng và thông tin từ báo chí, sau đó lặn lội đến với nhân vật để viết kịch bản (Hiện nay tôi vẫn còn nhiều ảnh đi thực tế và quan hệ rất thân tình với tất cả các nhân vật trong hai bộ phim của tôi chứ không hề có hồ sơ giả mạo nào đâu! Anh hoặc ai đó đã cung cấp thông tin cho nhà báo Việt Văn còn thiếu sót, phiến diện đấy anh ạ! ). Như vậy, tôi đã “đành lòng” phải chấp nhận việc kịch bản “Chất xám” lại rơi vào tay anh....

Điều đó không có gì đáng nói, nếu như bài học về “Những công dân @” tôi vẫn chưa thuộc! Tôi sống mà không bao giờ đề phòng đồng nghiệp, mà thực ra là tôi không thể sống bằng sự đề phòng những người xung quanh...vì vậy không bao giờ nghĩ đến tiêu cực, luôn hướng thiện và lạc quan... Thế là lại có chuyện vợ chồng tôi phải nhờ người trông con giúp vào ngày nghỉ cuối tuần để đến tận nhà anh, ngồi dựng lại phim từ chiếc máy tính trên bàn làm việc của anh, viết lại lời bình bằng bút chì lem nhem trên giấy nhàu... Tôi đã rất xúc động, nhất là giây phút đích thân mình được điều chỉnh kịch bản của mình trên bàn dựng của đạo diễn...( Việc này tôi khó lòng mà sáng tác ra được đúng không anh? Còn cả một Hội đồng nghệ thuật của Hãng đã sát cánh bên tôi và anh khi thực hiện hai bộ phim này...Người dựng phim đã sang Canada định cư nhưng cô ấy vẫn còn sống khỏe mạnh bên gia đình, tôi tin là cô ấy sẽ xác nhận điều đó).

Tôi biết là nói ra thì tôi cũng chẳng ra gì, giúp đỡ đồng nghiệp thì là vinh quang chứ, sao lại kể công? Tôi chỉ thực sự “sốc” khi bước chân lên bục thảm đỏ nhân giải Cánh diều Vàng 2008 cho phim, anh đã nói lời cảm ơn nhà báo Lê Thị Thái Hòa, người đã liên hệ và giới thiệu giúp anh một số nhân vật và bối cảnh tại Tp Hồ Chí Minh. Chồng tôi xem truyền hình trực tiếp từ Hà nội nhắn tin vào: “Thế là thế nào? Anh chẳng hiểu sao anh Thước lạ vậy?”. Sau này, anh lý giải với đồng nghiệp trong Hãng rằng: “ Chẳng nhẽ lại cảm ơn Thư, trong khi Thư đã cùng lúc ăn Hai Cánh Diều Bạc cho phim, lại thêm cả Diều Vàng cho Đạo diễn xuất sắc của cả hai phim rồi...Thế thì buổi lễ trao giải Cánh Diều này dành riêng cho nó à?”

Tôi đau lắm anh Thước ạ!. Trong khi chúng ta hôm nay đối đầu trên công luận, anh thấy buồn, nhưng tôi đau lòng và thấy “nhục nhã” về những điều vừa nói. Nó đã biến tôi thành một kẻ “tiểu nhân-tiểu khí” trong mắt mọi người. Nhưng tôi không thể giả dối để nuốt trong lòng những điều đó, tôi phải cảm ơn anh rất nhiều vì đã gợi ý cho tôi một cơ hội nói thật điều mình nghĩ về anh trước công luận.

Chia sẻ với anh, hơn ai hết tôi hiểu cụm từ: “Làm phim là quá trình nhận thức lại vấn đề của Kịch bản ..”.mà anh rất hay diễn thuyết.  Với cương vị là một đạo diễn, nhân viên cấp dưới trực tiếp hiện nay của anh ở Xưởng phim Tài liệu, tôi rất hiểu cái khó, cái khổ sở của một người phải sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật trên ý tưởng và trí tuệ, kiến thức của người khác. Nhận thức không chỉ là một quá trình đâu, đôi khi, nó còn là tai họa. Tôi cũng chia buồn với anh vì đã có vài lần anh định tự mình viết lấy kịch bản để làm phim, nhưng cho đến nay dự định đó không hiểu vì lý do gì mà Hội đồng nghệ thuật không duyệt được “câu nói vu vơ “ nào của anh...? Tôi cũng băn khoăn, chỉ vài ngày nữa là anh lại lên đường để sản xuất một phim kế hoạch Nhà nước đã giao mà kịch bản của một người khác viết.... Anh có sợ người ta đọc phát ngôn của anh về kịch bản và vai trò đạo diễn trên báo Tiền Phong và VN Express rồi lại từ chối viết lời bình cho anh? Lại mất công anh đi nhờ vả người khác hoặc là viết lại hoặc là sửa lại cho anh? (như trường hợp phim Sự nhọc nhằn của cát mà  tôi đã giúp anh viết lời bình trong khi chị Tú không hài lòng vì anh đã không lĩnh hội được hết ý nghĩa sâu sắc của kịch bản trước cuộc họp của cả Hãng phim?)

Vậy anh có bao giờ tự đặt câu hỏi cho mình, với ngần ấy công việc tôi và các đồng nghiệp trong Hãng đã giúp anh thực hiện dưới chức danh Đạo diễn của anh, anh vẫn muốn khẳng định “... Từ xưa đến nay, đạo diễn luôn là tác giả quan trọng nhất của phim?”...để mà ngoan cố chen chân vào Giải Thưởng Nhà Nước 2011?

Tôi biết là anh sẽ không chịu lùi bước đâu. Khảng khái lắm! Anh và nhiều đồng nghiệp khác sẽ đặt ra câu hỏi: “ Tại sao bây giờ tôi mới lên tiếng, tại sao không trao đổi với anh và Ban giám đốc...? Tôi nghĩ thế này anh Thước ạ! Việc tôi cũng như các đồng nghiệp có thể có những đánh giá không chính xác về tài năng và nhân cách của anh, chưa phải là ghê gớm; Việc Hội đồng Giải thưởng đánh giá chưa đầy đủ, sai lệch thông tin về năng lục của anh cũng chưa phải điều đáng sợ. Điều đáng sợ nhất là chính anh tự nhìn nhận, đánh giá sai lầm về tài năng và nhân cách của mình...

 Tôi không bao giờ nghĩ rằng, phần hay nhất, gay cấn và ồn ào nhất của bộ phim “ Chất Xám” lại nằm ở chỗ anh khai thác “Chất xám” của đồng nghiệp để coi đó là “ Chất xám” của mình...Hóa ra, chất xám đã tự chảy máu từ trong chính bộ phim chảy ra... Tôi muốn tạm biệt anh bằng khảo dị thứ hai: “ Khi anh không biết tự mình dừng lại, đời sẽ dừng anh lại...”

(Theo phongdiep.net)

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2011

Bình Thuận có hai nhà văn trẻ được Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh cử đi dự Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc

Trước tiên, đó là nhà thơ Đồng Chuông Tử, sinh ra, lớn lên, học hết bậc trung học phổ thông tại quê hương Bình Thuận, rồi khăn gói vào Thành phố Hồ Chí Minh học đại học Luật. Anh sinh năm 1980, ở làng Chăm Ma Lâm, Hàm Thuận Bắc. Những năm gần đây, anh nổi lên là một nhà thơ cách tân, nghệ sĩ trình diễn được đông đảo độc giả yêu thơ biết đến trên cả nước.

Ngày thơ Việt Nam năm 2010, hướng tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Hội nhà văn Việt Nam đã mời anh ra Văn Miếu để đọc thơ, trình diễn thơ . Tháng 6/2010, Chủ tịch Hội nhà văn Thừa Thiên Huế Tiến sĩ – Nhà thơ Phạm Nguyên Tường, mời anh và họa sĩ – nhà thơ Huỳnh Lê Nhật Tấn (Đà Nẵng) giới thiệu, đề cử nhân sự ba miền cho mùa Festival thơ Huế 2010. Đó là lần đầu tiên  thơ trình diễn về với công chúng cố đô. Festival thơ Huế 2010 được đón nhận nồng nhiệt và đã thành công hết sức tốt đẹp.

Tiếp theo là nhà văn Trần Minh Hợp. Anh sinh năm 1988 tại Hàm Thuận Nam, tốt nghiệp trường đại học An ninh nhân dân, hiện công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các tác phẩm đã xuất bản năm 2011 là Cô gái bán ô màu đỏ, Có gã trai đạp xe run lẩy bẩy. Đặc biệt tập truyện ngắn Cô gái bán ô màu đỏ, được dư luận thành phố chú ý. Cuối tháng 5/2011 vừa qua, cùng với nhà thơ Đồng Chuông Tử, dịch giả - giảng viên Nguyễn Vũ Hưng (con trai nhà văn Nguyễn Hiệp), Trần Minh Hợp là đại biểu chính thức của Hội nghị Những người viết văn trẻ thành phố Hồ Chí Minh lần 3, tổ chức tại Cần Giờ.

Theo nguồn tin tại quê nhà Bình Thuận, nhà văn trẻ Nguyên Tài, vừa đoạt giải thưởng Dục Thanh, cũng được Hội văn học nghệ thuật tỉnh giới thiệu đi dự Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần này.

Như vậy cuộc hội tụ lớn trên lĩnh vực văn học nghệ thuật của cả nước diễn ra tại Hà Nội và Tuyên Quang vào cuối tháng 8 năm nay sẽ có “ít nhất” ba nhà văn trẻ quê Bình Thuận cùng “Bắc tiến”.

Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011

Riêng Phương

Xa xôi lại nhớ Vũng Tàu
Bãi Sau Bãi Trước bãi nào cũng thơm
Xanh rờn ngày tháng mùa ươm
Núi vang chuông gọi, cánh buồm liu thiu
Biển xanh sóng cuộn bên chiều
Vài li rét mướt đã diều dã bay
Cuộc đời phương phước chân lầy
Gió như cây chổi gom đầy cô đơn

Cỏ cô đơn lá cô đơn
Cả không khí cũng dỗi hờn nhớ nhung.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

Phụng, Trở lại Với Đời


 


Tôi điếng người sau cú phôn. Phôn của anh bạn ở Portland. Phụng dính ung thư gan! Tôi loanh quanh chẳng biết mình đang làm gì và đang muốn làm gì. Có lẽ nào! Đang khi không bỗng trời ập xuống. Cảm giác này tôi đã có khi nghe tin Trường Kỳ vừa vội vã ra đi. Khi Phụng sang Montreal là ba đứa tôi hàn huyên ríu rít.

 Cho tới bây giờ tôi không nhớ là tôi quen Kỳ lúc nào và quen Phụng lúc nào. Hình như tình thân có sẵn đó. Chưa bao giờ tới và chưa bao giờ đi. Chỉ có con người đi. Kỳ đã đi. Phụng bên bờ vực!
Anh bạn luôn sát cánh bên Phụng cho biết là bác sĩ cho Phụng cái hạn ba tháng. Biết mình chỉ còn ba tháng trên đời, Phụng tính những chi? Tôi băn khoăn mà không dám nhấc phôn hỏi. Tôi sợ sự sợ hãi. Phụng đang nằm trong sự sợ hãi của một kẻ bị dồn tới chân tường. Phôn rồi biết nói chi với Phụng. Ông khoẻ không? Vô duyên! Ông đang làm gì đó? Lại vô duyên. Phụng không còn cái yên ắng của những người chưa phải thấy cái hàng rào thời gian chặn trước mặt. Ba tháng để thu xếp một đời. Có ngắn quá không? Có dài quá không? Kỳ không có thời gian đối mặt đó. Ào một cái, Kỳ đi. Dứt khoát. Chẳng phải tính toán chi. Khỏe re!
Chuyện gì cũng vậy. Biết trước vẫn hơn. Không phải bất ngờ đưa đến những sai lầm của vội vàng. Nhưng chuyện đi, đi một đường thẳng, chắc có khác. Ba tháng của Phụng nhất định là ba tháng khốn khó. Tôi cũng thấy khó. Làm sao bấm được 8 con số để với tới Phụng. Loanh quanh mãi tôi cũng bấm được hàng số nằm thản nhiên trên chiếc phôn. Hàng số của anh bạn tâm giao với cả tôi và Phụng.
Dựa vào sự quen biết từ những ngày hàn vi xa lắc xa lơ, tôi vẫn dùng anh bạn làm cục kê trong những lần ngại gọi thẳng Phụng. Giao hả? Tôi thầm thì như sợ Phụng nghe thấy tuy nhà anh và nhà Phụng cách nhau tới cả giờ lái xe. Phụng ra sao? Tai tôi ghé sát ống nghe. Thì như moa đã mail cho toa. Bác sĩ đã có… phán quyết rồi! Tôi hụt hẫng. Toa thấy Phụng ra sao? Buồn lắm! Khoảng hai, ba năm trước Phụng đã một lần bị anh chàng ung thư thăm hỏi. Lần đó là ung thư túi mật. Theo chị Ái, bà xã của Phụng, chị thấy anh mất cân dần, mặt mày hốc hác nên vội đưa anh tới bệnh viện. Thử mới lòi ra bệnh. Dính chấu! Nhà thương vội mổ ngay. Cắt đứt cái túi phản bội trong con người anh. Tưởng rằng đã yên. Mà yên thật. Anh đã hát hò lại.
Phụng rất mê hát. Đó là lẽ sống của anh. Nhớ trong lần tôi chở vợ chồng Phụng từ Toronto đi thăm thác Niagara, Phụng vừa hát vừa mở đĩa nghe mình hát suốt chặng đường. Vậy thì Phụng mê nhạc như điếu đổ. Cái thứ tương tư thảo Phụng mê thật. Mê trong lén lút. Thời buổi bây giờ người ta được khuyến khích phụ lòng thứ cỏ thơm. Phụng, cũng như các đệ tử của khói, chẳng thể lạc hậu được nữa. Nhưng dứt ngang thì chẳng đặng nên cứ lén lút thỉnh thoảng làm vài hơi. Tôi đã có lần nối giáo cho…bạn. Có chết thằng tây nào đâu!
Chuyện mê khói mà sánh với chuyện mê nhạc là đúng chỉ số. Toàn là thứ sống chết cả! Cuối cùng tôi cũng sống chết phải phôn. Nhấc cái phôn, quay số, chuông reo. Bên kia đầu giây là chị Ái. Cuộc chuyện trò đẫm nước mắt. Người bệnh đã xong phần cam chịu của người bệnh. Người đầu ấp tay gối có cái đau khác. Cái đau không ở trong người nhưng da diết ruột gan. Phụng đang nằm đâu đó trong nhà. Chị Ái đưa phôn cho Phụng. Tôi chờ một giọng trầm buồn nhưng lại được nghe một giọng… bạt mạng. Nó đánh mình thì mình đánh lại! Bạn mình khá, tôi nghĩ.
Ông Du Tử Lê bay từ Cali qua Portland thăm ông Phụng. Ông ung thư ruột thăm ông ung thư gan. Coi video cuộc trùng phùng của hai tác giả bản nhạc “Giữ Đời Cho Nhau”, một ông làm thơ, một ông đặt nhạc, tôi chỉ thấy tiếng cười.
Cũng trong cuốn video cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn văn nghệ, Phụng, với chiếc mũ nồi sùm sụp trên đầu, vẫn hào hứng chỉ dẫn cho một người bạn hát cho đúng một bản nhạc của anh. Đôi khi anh hát làm mẫu với tiếng đàn tây ban cầm. Giọng anh không còn là giọng trên sân khấu nhưng mắt anh vẫn ngời ngời say sưa. Bệnh tật không lấy đi được âm nhạc của anh tuy nó đã quật anh te tua bằng cách ăn cắp của anh một vài ký thịt, một nhúm tóc muối tiêu. Có một lúc anh đã giở chiếc mũ ra, nắm một nhúm tóc, vê vê trên tay, giơ ra cho mọi người thấy.
Tóc của Phụng, đó là một mái tóc bồng bềnh rất nghệ sĩ. Nhất định không thể là Phụng nếu không có mái tóc đó. Vậy mà cũng tới lúc anh phải buông bỏ. Những cú phôn của chúng tôi, trước hay sau khi Phụng vướng bệnh, đều là những tiếng cười. Khi đã trải qua mấy lần làm chemo, trong một lần Phụng cười nghiêng ngả trong phone, anh đã bảo tôi: “Thôi ông, tôi cười đau cái bụng quá!”. Lần đó, Phụng cho biết anh đã xuống tóc. “Nó rụng hàng nắm, cạo trọc luôn cho khỏi rắc rối!”. Chiếc đầu bình vôi đó tôi đã được chiêm ngưỡng. Phụng có khác đi nhưng cũng không đến nỗi nào. Phụng đã quen với bệnh thì bạn bè cũng phải quen với cái đầu không tóc của Phụng. Như Mai Thảo đã thơ. Bệnh ở trong người thành bệnh bạn / Bệnh ở lâu dài thành bệnh thân / Gối tay lên bệnh nằm thanh thản / Thành một đôi ta rất đá vàng. Bạn tôi đang phải thù tiếp ông bạn không hẹn mà đến, không mời mà ngồi lỳ không chịu đi đó.
Ông bạn bệnh tinh quái đã thay đổi hình hài của người nhạc sĩ tài hoa lịch lãm. Nhớ, ngày vợ chồng tôi cùng vợ chồng Phụng lang thang trên đường phố Vancouver. Trời hây hây lạnh. Phụng khoác chiếc áo dạ đen dài, thả hững hờ chiếc khăn quàng trắng phủ xuống tới thắt lưng. Đường phố vào thu. Những chiếc lá vàng lăn tăn chạy theo gió. Chúng tôi lang thang suốt ngày. Thường thì sau mỗi lần trình diễn, vợ chồng Phụng trở về liền. Lần đó, chúng tôi hẹn nhau. Phụng từ Portland tới, tôi từ Montreal sang. Sau ngày trình diễn, vợ chồng Phụng ở lại để rong chơi với vợ chồng tôi. Lũ chúng tôi xác xơ dần, mỗi lần gặp nhau là một lần khó. Ngày vui càng lúc càng hiếm.
Nhớ, lần Phụng qua Montreal trình diễn. Ngày hôm trước Phụng hát ở Montreal. Ngày hôm sau, Luân Hoán và tôi ra mắt sách ở Toronto. Chương trình sơ khởi do Lê Hân tổ chức chỉ là một chương trình hát tình ca phụ diễn. Tôi phone qua Phụng từ vài tuần trước hỏi Phụng có chơi văn nghệ với anh em, xuống Toronto hát chùa trong buổi ra mắt sách không? Phụng… chơi ngay. Vui là chính. Đêm hôm trước, trong khi Phụng hát ở Montreal, vợ chồng Luân Hoán và vợ chồng tôi lái xe xuống Toronto trước. Nửa đêm mới vãn hát, sáng sớm ngày hôm sau, từ khi mặt trời chưa thức dậy, vợ chồng Phụng đã khăn gói ra phi trường. Hơn một giờ bay, Phụng tới Toronto, Lê Hân và tôi đã có mặt tại phi trường Pearson của Toronto đón. Buổi ra mắt sách dự định vào cửa tự do đã phải đổi thành tặng vé vào cửa. Khán giả sẽ phải tới lấy vé tặng nơi ban tổ chức. Nếu không, chắc rạp hát sẽ bể vì lượng người tuôn tới. Đây là lần đầu tiên Phụng hát ở Toronto. Một tập nhạc đã được Lê Hân in cấp tốc để Phụng cũng ra mắt sách cho vui. Phụng mang thêm một số đĩa nhạc qua. Khán giả xúm xít vào nơi Phụng ngồi ký sách và băng nhạc. Vui ơi là vui. Trên sân khấu, trong phần giới thiệu Phụng, tôi lên tung hứng với Phụng trong một màn không sửa soạn, không tập dượt nhưng đầy cảm hứng. Nhạc sĩ  Trường Sa ngồi ở hàng ghế đầu cũng được móc lên giới thiệu với khán giả. Ông khóc vì cảm động. Đã lâu Từ Công Phụng và Trường Sa không gặp nhau. Có lẽ từ khi hai người, mỗi người một cách, mỗi người một  thời gian khác nhau, bỏ nước ra đi.
Nhớ, ngày tôi bắt xe đò từ Seattle qua Portland thăm Phụng. Những buổi sáng, cà phê do Phụng pha (Tôi pha cà phê ngon nức tiếng đó ông!) ngay trên lan can phía trước căn nhà cổ của Phụng, chuyện miên man, từ chuyện viết lách, văn nghệ lan qua tới cả chuyện tâm linh. Phụng có niềm tin tôn giáo rất vững vàng. Chính niềm tin đó đã cứu rỗi Phụng qua những ngày bệnh ngặt nghèo.
Bệnh cứ bệnh, sống cứ sống, bạn tôi vẫn cười với đời. Khóc chăng là chị Ái, người đã từng trải bao gian nan trong cuộc sống. Cú gian nan này xem ra cũng không làm nhụt được ý chí của người đàn bà đã từng bao lần vươn vai đứng dậy. Chị cuống cuồng giữ hơi thở của chồng. Chemo cứ chemo, ai chỉ bài thuốc nào chị cũng lăn ra làm. Người Phụng là nơi tiếp nhận đủ cả đông y tây y. Từ những thang thuốc bổ tới lá đu đủ, từ linh chi tới măng tây, cọng sả, hay bất cứ thứ lá lẩu nào có thể làm quê anh ung thư. Bệnh Phụng khi trồi khi sụt. Có lần  tôi phone qua, Phụng mệt không nói được. Có lần Phụng nhanh nhẹn tán chuyện liên chi hồ điệp. Hỏi thăm về bệnh, Phụng coi nhẹ: “Mình đánh nó, nó đánh lại mình, nó thua thì nó chạy, mình thua thì mình lui. Lui tới chân tường là cùng!”. Nhiều khi ngại không biết bây giờ bệnh Phụng ra sao (bây giờ tháng mấy nhỉ?) tôi lại đi đường vòng phone cho Giao hỏi thăm tình hình trước. Nếu không vui thì để Phụng nghỉ, cứ mang bệnh ra mà tán chán chết, cho cả tôi và Phụng. Nếu nghe thấy Phụng khỏe,  phone qua Phụng ngay, chia nhau những nụ cười, tiếp chút sức cho bạn. Có lần Phụng cao hứng nói huyên thuyên, cười đã, lại còn hát hỏng coi xem còn được không. Hát được có lẽ nhờ những tô phở gà của chị Ái. Phụng ưa ăn phở. “Bi chừ tôi đâu có ăn được phở bò! Ăn để tiếp đạn cho quân địch sao? Thịt đỏ là thứ anh cancer thích lắm. Cứ phở gà mà chơi”. Phở gà của chị Ái là thứ phở tinh khiết, không mỡ màng, thứ được chọn lọc cẩn thận, Phụng ăn vào là an toàn. Tình trạng của Phụng được tính theo phở. Ít ra là với đệ tử của phở như tôi. Cứ hỏi những bát phở Phụng ăn là biết được sức khỏe của Phụng. Từ đầu năm, tình trạng của Phụng lên dần. Và chót hết lên tới… đỉnh bình yên. Giao mail qua cho tôi. Phụng đã ăn hết bay hai tô phở một lúc. Vui mừng phone qua Phụng, chàng xác nhận vết ung trong gan đã teo lại. Quân ta thắng.
Trong số quân ta có những người yêu nhạc của Phụng. Có lần Phụng bi quan nới với tôi khi anh cho biết có người không biết anh bệnh nên mời anh đi hát: “Hát hò chi nữa. Chắc kiếp sau!”. Kiếp sau thì xa quá. Mà lúc đó biết Phụng ở đâu mà tìm tới nghe. Phụng vốn galant đâu có làm buồn người ái mộ đến vậy. Giờ, đánh cho anh chàng bệnh lui, Phụng phải hát lại. Anh phone qua tôi. Anh sẽ “Tạ Ơn Đời”. Đó là chủ đề và cũng là lý do mà Phụng sẽ gặp lại khán giả.
Khi tôi đến nơi đây nắng rực rỡ ngoài khoang trời xa, và lòng tôi thấy rộng mở những thiên đường…Phụng đã trở lại với đời. Bởi vì anh vẫn còn nợ đời! Hay đời còn nợ Phụng?
Song Thao
(Theo Yahoovanhoaviet.com)

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Cho một câu nhỏ, nhận cả cánh đồng cỏ triền phược

                                                                                         Đồng Chuông Tử
Trở về Sài Gòn từ Trại sáng tác trẻ ở Cần Giờ vào sậm chiều ngày 1.6, chưa kịp uống cà phê cùng bạn bè, tôi liền nhờ “cậu ba hội đồng” Trần Huy Minh Phương, đại biểu chính thức và cũng là một trong những thành viên ở lại Trại sáng tác, chở bằng xe gắn máy đến Thủ Đức gấp vì đã trể hẹn hơn 2 tiếng đồng hồ rồi.

Hôm ấy tôi có hẹn với nhà văn, nghệ sĩ trình diễn Lê Anh Hoài ở Hà Nội vào. Anh vào một công hai việc, trước là dự đám cưới một người cháu; sau, làm cuộc trình diễn mang tên “Lợn cạo”. Ấn tượng, đông vui là cảm giác của tôi khi có mặt ở xưởng vẽ của họa sĩ Ngô Lực hôm ấy. Nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh, cũng đã tường thuật và có những bức ảnh “trang trí” sinh động trên nguyenhuuhongminh.com.

Sáng hôm sau, Đồng Chuông Tử, Miên Ca, Tuệ Nguyên, Minh Phương, Tường Vi (những thành viên ở Trại sáng tác), gọi nhau í ới sau một đêm “khó ngủ vì cảm giác trống vắng bạn bè”. Không khí 3 ngày ở lại Trại sáng tác rất vui. Cả trại như một gia đình hạnh phúc. Phải vậy chăng mà khi xa nhau, cả bọn thường hay gọi điện hỏi han, hẹn hò cà phê, lúc vỉa hè 58, khi 81 Trần Quốc Thảo.

Buổi sáng đó, Tuệ Nguyên và Minh Phương đến muộn. Tường Vi, Miên Ca và Đồng Chuông Tử, đậu lại cà phê 81quen thuộc, ríu ran hồn nhiên cảm xúc. Lát sau, nữ sĩ Ngọc Anh, phóng viên Tuần báo Văn Nghệ TP.HCM bất chợt xuất hiện, như những lần gặp gỡ bình thường trước đó, anh em đã thân nhau rồi mà.

Khác chăng lần gặp “định mệnh” ấy, Ngọc Anh “hỏi xoáy hỏi xoay” nhiều bất thường về Hội nghị những người viết văn trẻ lần 3 và Trại sáng tác trẻ. Tôi nghĩ trong lòng, Ngọc Anh cũng là một đại biểu văn trẻ, quan tâm đến suy tư các đại biểu khác cũng là chuyện bình thường, huống hồ đã là anh em với nhau, lại làm thơ nữa, chắc sẽ nạp nhiều năng lượng cho thơ tươi rói chất liệu hơn.

Cuối buổi nói chuyện, tôi bỗng đâm nghi ngờ, và có “rào” Ngọc Anh một câu rằng: “đây chỉ là chuyện anh em nói vui ngoài quán nước, đừng có “tương” nhau lên mặt báo đấy. Khi nào em có sắp xếp, điện thoại mời trước, anh sẽ trả lời phỏng vấn nhé, không ngẫu hứng ngẫu nhiên như vầy ”. Nhưng mà anh nói thiệt, sau khi kết thúc Hội nghị viết văn trẻ lần 3 trong 2 ngày tổ chức ở Cần Giờ (trừ Trại sáng tác trẻ), đọc bài viết của ít anh em khác, tham dự lẫn không tham dự Hội nghị, liên quan chung cục lẫn “đánh đấm” cá nhân anh (ví dụ bài của đồng chí Bùi Công Thuấn ở hóc bò tó nào đó), anh nghĩ mình cần khoảng thời gian… 2 tuần mới có thể hồn nhiên làm thơ hay trở lại, tiếp sau là tràng cười sảng khoái, quên luôn thế sự.

Ngọc Anh phấn khởi nói, anh Tử ơi, câu này hay quá, nó nói lên nhiều điều, cho em xin câu này nhé. Anh không nấn ná, vội trả lời “ừ, cho em”. Không hỏi em để làm chi, vì cũng đã hiểu tâm tính nhau, còn gì.

Nhưng Ngọc Anh ơi, chiều hôm qua anh lên mạng đọc thấy bài phỏng vấn của em, hoành tráng thì hoành tráng thiệt, sao lại bỏ ý của anh vào một bức tranh xám xịt, méo mó đến vậy. Ngữ cảnh khác, câu của anh bỗng trở nên nặng nề, cười đểu. Nó lạ lẫm và không đúng phong cách “giang hồ” nghĩa hiệp của anh rồi.

Em đã “vẽ” xong một bức tranh với sắc màu nóng, nhầy nhụa, rồi treo ý anh lên làm “vật tế thần” ư?

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2011

Ghi chép từ Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.HCM lần thứ 3:


Những ấn tượng trẻ khó quên

ĐỒNG CHUÔNG TỬ

Sau gần 5 năm mong đợi, vào lúc 14 giờ ngày 27.5 tại Bến Nhà Rồng (chi nhánh Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Thành phố Hồ Chí Minh), đã chính thức khai mạc Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ 3. Hơn 100 đại biểu và khách mời văn trẻ đã về tham dự. Không khí buổi khai mạc trầm lắng, trang nghiêm.
Có một điều ngoài rìa, tưởng chừng không đáng chú ý ở đây là việc từ cổng vào trung tâm Hội nghị không có băng rôn chào mừng hoặc chí ít bảng chỉ dẫn. Các nhà văn, nhà thơ trẻ về dự “lơ ngơ” đi vào đều được bảo vệ của Bảo tàng gọi lại hỏi, rồi mới chỉ tay về hướng cần đến.
MC của Hội nghị là nhà thơ “bự con” Phạm Sỹ Sáu, phó chủ tich Hội Nhà văn TP.HCM. Ông là một người lính từng cầm súng ở nhiều mặt trận, trong đó có mặt trận ở Campuchia.
Tiếp theo lời khai mạc của nhà thơ Lê Quang Trang - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam kiêm Chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM, nhà thơ Phan Hoàng - Uỷ viên Ban Chấp hành, Trưởng ban Nhà văn trẻ đã đọc tham luận đề dẫn mở đầu cho tham luận của các nhà văn trẻ: Nguyễn Thu Phương, Ngô Thị Hạnh, Trần Minh Hợp, Lê Thiếu Nhơn, Huỳnh Mẫn Chi, Nguyễn Lệ Chi… Nhiều vấn đề “nóng” của đời sống văn học trẻ đã được đưa ra với nhiều góc nhìn khác nhau.
Những khách mời đặc biệt là những nhà văn “cây đa cây đề” như Nguyễn Quang Sáng, Vũ Hạnh, Trần Kim Trắc, Lê Văn Thảo lần lượt được mời lên cầm “cây bút micro” để “phóng” chuyện. Mỗi người “phóng” một ít, gom lại cũng được “năm hay sáu trang âm thanh”.
Vì dành thời gian hơi nhiều cho các bậc lão thành nên nhiều tham luận của các nhà văn trẻ như Trần Hoài Anh, Đồng Chuông Tử, Trương Anh Quốc, Phương Trinh, Lê Thuỳ Vân,… đành phải chuyển về hội thảo ở Cần Giờ.
 Như vậy, phần “nghị” đã được “gọt” lại cô đọng, tinh giản đối với những đại biểu nhà văn trẻ.
16 giờ 30 phần “nghị” kết thúc, sớm hơn 30 phút so với lịch trình.
Phần “hội” được nối vào sau đó, ở một nhà hàng ẩm thực ven sông, cách Hội trường hội nghị khoảng trăm mét. Không khí buổi “hội” này thật rôm rả, vui tươi trong làn gió mát sông Sài Gòn. Và cùng bắt tay nhau hẹn ở Cần Giờ vào hôm sau…
Khoảng 13 giờ ngày 28.5, đông đảo đại biểu nhà văn trẻ đã tập trung tại Văn phòng Hội Nhà văn TP.HCM, số 62 Trần Quốc Thảo, Quận 3.
Khoảng 13 giờ 45 phút thì chiếc xe chở đại biểu đến. Đúng 14 giờ xe lăn bánh, mang theo hầu hết những tài năng trẻ văn chương của thành phố đi tham quan một số công trình đã định trong lịch biểu.
Có một chuyện hi hữu gây “ngỡ ngàng” thoáng chốc cho mọi người, đó là việc chiếc xe hình như vừa vội vã đến từ một đám tang nào đó ở ngoại ô xa xôi. Nên khi vừa đỗ lại, cờ tang vẫn còn “đu đưa” trên đầu xe.
Nhận thấy nhiều ánh mắt nhìn chầm chầm, xôn xao vào “hình ảnh lạ”, người lơ xe đã “xúc động” vội vàng gỡ xuống.
Chiếc xe lượn đi nhiều nơi đã định rồi đậu lại ở Trung tâm Dã ngoại Cần Giờ. Nơi đây là địa điểm sẽ diễn ra nhiều hoạt động “trọng tâm” của Hội nghị.
Do buổi chiều hôm đó trời có mưa, với hơn 30 phút nghỉ ngơi dọc đường, xe đến chậm hơn dự định già một tiếng đồng hồ.
Theo danh sách thì có khoảng 72 đại biểu tham dự. Vài người vì công việc riêng không đến được. Số lượng đại biểu nữ nam tương đương nhau. Trong đó có hai vị tiến sĩ phê bình văn học, hiện đang giảng dạy ở các trường đại học phía Nam.
Việc lo liệu phòng ốc, ăn uống, vui chơi, dã ngoại,… hình như chỉ một mình nhà thơ - Chánh văn phòng Hội Phan Trung Thành “đạo diễn”. Một người lo cho non 100 người. Thật tội nghiệp cho anh, nhất là cách đây chưa lâu, anh vừa trở về từ bệnh viện. Di sản của cuộc trở về ấy vẫn còn được anh kiêng cữ, chăm sóc.
Đúng 20 giờ, một trò chơi mang tính giao lưu đã diễn ra trong không khí ấm áp vui nhộn, tràn tiếng cười, tiếng vỗ tay. Ngoài hội trường mưa rơi nặng hạt, gió lạnh rít từng cơn, từng cơn. Trò chơi là ý tưởng của nhà văn – đạo diễn Nguyễn Thu Phương. Nhờ một chút “sân khấu hoá” mà cuộc giao lưu rất lôi cuốn, giúp các nhà văn trẻ biết rõ nhau hơn.
Sau một đêm lạ nước lạ cái, có nhiều người trẻ khó ngủ, nhất là nhà văn nữ. Nhiều “chàng thơ trẻ” như Thanh Tùng, Lê Quang Trang, Phạm Sỹ Sáu,… lại không chịu ngủ, vì sợ lỡ mất trận chung kết “trong mơ” cúp C1 châu Âu, giữa MU và Barcelona.
8 giờ ngày 29.5, bước vào Hội thảo Văn học trẻ trong dòng chảy thị trường. Phải nói chân tình rằng, ấn tượng ngày khai mạc đã khiến rất nhiều nhà văn trẻ nản lòng. Nhưng mọi người vẫn đến. Cứ ngỡ đến cho có. Hội thảo sẽ nhạt, ai dè…
Trừ 15 phút đầu, thời gian cần thiết để khởi động làm nóng. Chủ toạ của Hội thảo là nhà thơ, nhà báo Phan Hoàng - Trưởng ban Nhà văn trẻ, cùng nhà văn Tiến Đạt - Phó ban, đồng cầm trịch. Hội thảo ngày càng mở, nóng lên theo từng giây từng phút, nhiều vấn đề được đem ra mổ xẻ gây cấn. Nhiều tham luận, ý kiến được phản biện sôi nổi, đa chiều chưa từng có trước đây, ở bất kỳ hội thảo văn học nào, từ Trung ương đến địa phương. Thời gian càng trôi về trưa, tay của các nhà văn trẻ giơ lên xin phát biểu, phản biện càng nhiều. Không khí xứ biển Cần Giờ dường như cũng “nóng” hơn cùng hội thảo!
Nhiều vấn đề được các đại biểu nhà văn trẻ gởi gắm, mong chờ như chuyện tài trợ in sách, giải thưởng, bản quyền, các hình thức đưa thơ đến công chúng, quảng bá tác phẩm,…
Hội thảo đã thành công ngoài kỳ vọng, ngoài sức tưởng tượng, lần đầu tiên có được như vậy.
Hội nghị kết thúc. Các đại biểu văn trẻ trở về trung tâm thành phố với nhiều ấn tượng đẹp. Những thành viên tham gia Trại Sáng tác văn học trẻ do nhà thơ Phan Hoàng phụ trách tiếp tục ở lại “đắm mình” trong sông nước Cần Giờ.

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011

Cảm nghĩ về thơ Việt hôm nay, dòng chảy từ các tác giả trẻ Chăm

(Tham luận sẽ đọc tại Hội nghị Những người viết văn trẻ TP.Hồ Chí Minh cuối tháng 5 năm 2011)

Nhắc đến Chăm, người ta thường nhớ ngay đến những ngọn tháp Chàm mọc lên đỏ rực, huyền thánh trên những quả đồi tươi xanh, lộng gió xuyên suốt miền Trung và Tây Nguyên hàng bao thế kỉ nay.

Nhắc đến Chăm, người ta cũng nhớ ngay đến những công trình nghiên cứu về lịch sử, kiến trúc, điêu khắc, những công trình về văn hóa Chăm, lễ hội dân gian, âm nhạc truyền thống,…của các nhà nghiên cứu tên tuổi trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Nhắc đến Chăm, người ta cũng nhớ ngay đến một dân tộc đã trải qua một thời kì lịch sử đầy biến động, lúc rực rỡ hưng thịnh, khi suy vi cực kì. Nay dân tộc đó đang sinh sống hòa bình, mến khách trên dải đất hình chữ S hùng vĩ, thơ mộng cùng cộng đồng 54 dân tộc anh em.

Và nhắc đến Chăm, những thế hệ người yêu thơ Việt, hẳn cũng còn nhớ đến tập thơ Điêu tàn của thi sĩ Chế Lan Viên, vào những thập niên đầu thế kỉ XX, thiên niên kỉ trước.

Và phải chăng chỉ có vậy? Phải chăng một dân tộc với nền văn minh chữ viết xuất hiện sớm vào loại tốp đầu khu vực Đông Nam Á, mà nền văn chương chẳng giới nào thèm đếm xỉa đến? Phải chăng lời tuyên bố của Paul Mus, nhà dân tộc học nổi tiếng thế giới người Pháp, giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX là sự thật? Ông ấy tuyên bố rằng: “Văn học Chăm chỉ có thể tóm gọn trong 20 trang giấy”, mà thôi.

Phải chăng Chăm là một dân tộc lại tiếp tục nghèo nàn về suy tư văn học đến vậy?. Với vỏ bọc ngôn ngữ mới là tiếng Việt, tâm hồn Chăm bỗng bị mắc kẹt, tự ti bởi rào cản ấy trong sinh hoạt đời thường, tư duy và sáng tạo nghệ thuật như nhiều người khác tộc nào đó từng nói từng nghĩ ư?

Dân tộc Chăm đã mất mát nhiều, điều đó ai cũng biết. Những học giả, nhà nghiên cứu tùy lĩnh vực chuyên môn của mình, đã công bố nhiều công trình liên quan đến dân tộc ấy. Họ trở nên có danh tiếng lớn. Công sức họ bỏ ra, thành quả họ được nhận lại tương xứng. Nhưng thử hỏi, ai dám dũng cảm đến khờ khạo bỏ cả đời mình đi nghiên cứu một dân tộc, mà biết trước dân tộc đó chẳng có hấp lực gì, sự xúc động nào đáng kể.

Và Chăm là một dân tộc hội tụ đầy đủ những điều đáng kể. Di sản hôm qua, đời sống cộng đồng xen cư, cộng cư hôm nay, đều là những đối tượng đáng để thể hiện. Không chỉ trong những công trình khoa học chuyên nghành, có lúc khô khan, đơn điệu, mà loại hình thơ ca, cô đọng, dễ nhớ dễ thuộc cũng phải can dự vào. Không phải can dự cho có, mà can dự như những bông hoa đẹp, ai ngắm cũng trầm trồ, trong vườn hoa đa sắc đa thanh ấy.

Những cái tên như Inrasara, Đồng Chuông Tử, Tuệ Nguyên, Jalau Anưk, Chế Mỹ Lan, Bá Minh Trí, Thông Minh Diễm, v.v…đã xuất hiện vang vang kiêu hãnh. Mặc dù xuất hiện với tâm thế khác, ngôn ngữ khác nhưng họ rặt tâm hồn Chăm, thấm đẫm tinh thần minh triết Chăm.

Lời tuyên bố của Paul Mus ngày xưa, theo thời gian đã mất hoàn toàn giá trị. Công trình Văn học chăm, khái luận-văn tuyển của Inrasara ra đời năm 1994 đã vô tình hay cố ý xô ngã thảm hại lời tuyên bố có phần vội vã ấy.

Và với những tập thơ đã ấn hành vài năm trở lại đây của các tác giả trẻ Chăm, cũng đã phần nào chấm dứt tình trạng thương vay khóc mướn.

Từng ngóc ngách của đời sống, nơi họ đến, đi, trở về, được họ quến lại cảm xúc mình. Đặc sệt nồng độ, tươi rói hình ảnh, ngôn ngữ.

Ở nơi xó xỉnh nào đó, họ ở lại, dịu dàng tiếp biến ngữ cảnh hay cô đơn miệt mài định phận. Chẳng hề hấn gì, họ vẫn say sưa thắp sáng ngọn lửa thơ ca, ôm mang nó phiền muộn nhiệt tình trên mọi nẻo lãng du.

Chẳng hạn, khi đang trên đường từ Hà Nội thấm tràn cơn lạnh xuôi về phương Nam nắng gió rát rạt, nghe tin nước Nhật bị động đất sóng thần tàn phá, Đồng Chuông Tử đã bật chốt cửa lòng mặc những câu thơ trào ra cuồn cuộn, nghẹn ngào bên dòng Thu Bồn ở Hội An.

Có những lúc con rũ rượi một mình phía sau câu thơ vừa ngã rạp
ngôn ngữ nhỏ bé, hữu hạn, lạc lõng trợ duyên thâm trầm
tụ trên cánh đồng nắng như hạt muối buồn

Có những lúc con phụt khóc một mình phía trước màn hình
tin tức ngắn củn
xót tinh thể bụi

Mặt trời chợt lặn trên đất nước hằng mọc ánh sáng
Japan,11.3, cháy bùng ngọn sóng vỡ vạc bí bầu
trỗi thức lở lói

Japan, 11.3 thế giới nhận diện âm thanh gãy
đổ lênh láng mặt đất

Trang kế sẽ là thành phố trùm chăn ngủ
và gặt hái tâm hồn nhân loại ăn năn

Thượng Đế, cha vừa dựng lên xơ xác nỗi đục.
Yêu thương, quãng đại có là hư cấu?

Bài thơ này nằm trong tập thơ “Nội dung của cơn mưa”, tập thơ thứ ba sắp ra mắt của Đồng Chuông Tử.

Hay như Tuệ Nguyên phiêu lãng bốn mùa, thoắt Bắc thoắt Nam, thoắt miền Trung bão lũ thoắt Tây Nguyên xanh tươi, khí hậu mát mẻ. Anh có lần tâm sự là “đi để sống và tìm cảm giác sống” , còn trẻ không có nghĩa là vốn ít , thiếu năng lượng để nạp cho suy tư của mình. Trong bài thơ “Như một nghịch lí”, Tuệ Nguyên viết rằng: Khi họ thấy tôi ngước mắt nhìn họ ngờ nghệch – họ đưa ánh mắt về phía tôi, như trấn an ngầm: “Đối diện với sự thật như thế sẽ làm cho anh chẳng dễ chịu đâu!” Với tập thơ mới nhất sắp xuất bản có tên gọi “Mi và ngôn lời”, nhà văn Nguyễn Đình Chính viết tựa rằng “Thơ Tuệ Nguyên là những gam màu của lửa. Ai chưa hiểu, sẽ rất khó mà đồng cảm ngay được”.

Còn với Chế Mỹ Lan, nhà thơ nữ sinh năm 1975, hiện định cư ở Hoa Kỳ, trong tập thơ “Em và màu mây qua tháp” Nxb. Văn học ấn hành năm 2008, thì thơ là những hoài niệm về xứ sở xa xôi, nhớ thương quá khứ dịu vợi, nhớ cả những màu mây ngũ sắc bất giác  trôi qua đỉnh tháp quê mình. Chế Mỹ Lan viết rằng:

Màu mây trắng hay màu của nỗi nhớ
Tháp miệt mài đánh bạn với thời gian
Rừng không còn hoang, người vẫn biệt mù
Tháp đứng mãi cho đến ngày tận thế!

Một tác giả khác cùng sinh năm 1975 với Chế Mỹ Lan, là Jalau Anưk, anh là con trai đầu của thi sĩ quá cố Jalau, được độc giả biết đến với bài thơ Hạt sương của tôi, tham dự ở nhiều tuyển tập thơ cả nước. Bút danh Jalau Anưk là phiên âm la tinh từ tiếng Chăm, tiếng Việt có nghĩa là “Con của Jalau”. Anh là giáo viên tiếng Anh ở TP. HCM, thành viên biên tập đặc san Tagalau, Tuyển tập sáng tác-sưu tầm-nghiên cứu Chăm do Inrasara sáng lập và chủ biên. Thơ Jalau Anưk, theo Inrasara nhận xét là “ngồn ngộn hiện thực, có không khí hậu hiện đại, nhưng vẫn nồng đậm bản sắc Chăm”. Trong bài thơ “Dưới vòm trời là những mái nhà”, anh viết:

…Đi đi em!
phía bên kia nông hoèn hoẽn sông quê là ùn ùn sóng bể
sau hoang hoải đêm dài là rực phố đông vui
phố cũng thích Xaranai
phố cũng say đắm lòng tháp cổ
phố cũng rộn ràng với Ginơng
phố cũng trải lòng với điệu múa Apsara
phố cũng hiểu Ariya
phố cũng sụt sùi nghe dalikal bà kể…

Với Bá Minh Trí, tác giả sinh năm 1979 tại Ninh Thuận từng đoạt giải thưởng thơ Bút Mới lần thứ 5 năm 2005, do Báo Tuổi Trẻ tổ chức. Hiện anh là Giám đốc Công Ty TNHH Bình Minh, chuyên doanh về các mặt hàng nông sản tại Phan Rang. Anh tâm sự: “Làm doanh nhân là trách nhiệm với vợ con, còn làm thơ là trách nhiệm của mình với cộng đồng”. Trong bài thơ “Triết lí lá vàng’ anh viết:

Cái cười ngoảnh lại và rớt quanh làng
Người đi
Câu hát dở dang, điệu bwei hrung* lỡ nhịp
Xalam xalam

Từ bạt ngàn đồi núi
Từ hanh hao gió nổi
Bàn chân trần vất vả tuổi thơ
Trôi dạt

Núi có trơ và sông có bạt
Em quên bẵng và plei lạ lẫm
Vẫn mong một ngày về
Tạ ơn

Cái cười ngoảnh lại và rớt quanh làng
Không lời tụng ca rình rang
của thầy paxeh
buồn vui bớ láng giềng
sao người còn múa hát
mai trở về
chắc vàng như lá cây
rơi
khi đã nhiệt tình xanh lặng lẽ.


Riêng Thông Minh Diễm, bút danh khác Diễm Sơn, tác giả sinh năm 1978 tại Bình Thuận. Học hết cấp ba, gia đình khó khăn, không có điều kiện học lên, anh thường trú quê nhà, tự học tiếng Chăm, mày mò nghiên cứu văn hóa mẹ đẻ, báo chí đăng rải rác ở tạp chí Dân tộc, Dân tộc và phát triển... Thơ anh chủ yếu xuất hiện ở đặc san Tagalau. Thơ anh không nhiều, nhưng bài nào cũng đặc sắc, tinh tế. Trong bài thơ “Người xóm cũ”, anh viết:

Người đàn bà đi ngược triền dốc
tay bưng li-i bám đầy bụi
bình thản người đàn bà cúi nhặt
phần thừa lại phân trâu sót khô
lấm lem đếm tuổi theo thời vụ
vừa lội qua một nhánh sông có bãi đá
lau lách mỗi ngày đời…

Xưa kia nơi đây có một con suối
urang còn nghe ia ru
đó là tiếng thì thào của dòng nước…!

Người đàn bà khải ngộ
giữa bãi trắng lầm bầm lang kar
gỡ chiếc khăn mư-thâm
che dung nhan
che tì vết
ngồi nhớ
hồi dara

Nhưng cánh cửa đền Ppo Dhat lúc nào cũng đóng
lỗi hẹn một mùa Cabbur
cũng chưa thấy một nhà trùng tu nào ghé tới thăm
người đàn bà có một con đường quanh queo
bàn chân vu vơ hoài mơ thiên sứ
chị gái Apsara bay đi tự lúc nào?!

Nhìn thấy người đàn bà Xóm Cũ
đứng buồn.

.v.v…

Những gương mặt thơ trẻ Chăm vừa phác họa ở trên, chỉ là những dòng định danh lược thuật ngắn củn, chắc chắn còn thiếu sót. Dân tộc Chăm là dân tộc yêu văn chương. Tâm hồn Chăm là tâm hồn đầy tràn nghệ sĩ tính. Một vài cái tên được nêu lên, chắc chắn không thấm tháp vào đâu. Nhưng họ, những cái tên vừa điểm danh ấy, cũng kịp tạo ra một diện mạo thơ, một dòng chảy lạ đậm đà bản sắc. Ô hay, với người làm công việc sáng tạo nói chung, đấy cũng là một sự tìm kiếm có khi vời vợi, nhọc nhoài.



Không những thế, với một tâm thế mới, cảm và nghĩ mới, họ đã thực sự kéo dài nền văn chương Chăm ra. Đồng thời hãnh tiến đóng góp vào nền văn chương Việt Nam, những câu thơ, những bài thơ, những tác phẩm thơ không trộn lẫn với ai.